phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động đảm bảo chất lượng theo chuẩn Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng theo chuẩn của trường THPT Yên Hòa. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường trung học phổ thông. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vấn đề đảm bảo chất lƣợng Đảm bảo chất lượng là một mô hình quản lý chất lượng ở mức cao hơn so với mô hình kiểm soát chất lượng.
Mô hình quản lý này đã khắc phục được những hạn chế của mô hình quản lý trước đó là đưa hệ thống thiết kế vào quản lý chất lượng ngay từ đầu, nhấn mạnh tới đảm bảo chất lượng chứ không phải phát hiện và loại bỏ những sản phẩm không đáp ứng yêu cầu. Do đó, đảm bảo chất lượng là chiến lược ngăn ngừa việc sản xuất ra những phế phẩm. Theo Oakland (1988) thì có 5 đặc trưng của cơ chế đảm bảo chất lượng: 1/ Kế hoạch hóa chất lượng 2/ Hướng dẫn 3/ Đào tạo đội ngũ 4/ Cung cấp trang thiết bị, công nghệ và phương pháp luận đánh giá sản phẩm. 5/ Phân tích ý kiến của khách hàng, đảm bảo quyền và trách nhiệm pháp lý của sản phẩm.
Như vậy, mô hình đảm bảo chất lượng dựa trên nguyên lý là tất cả các bộ phận chức năng phải chia sẻ trách nhiệm về chất lượng, cung cấp mọt phương pháp hữu hiệu để đạt và duy trì các tiêu chuẩn chất lượng.23] Một cách tiếp cận khác cho rằng, quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng là một hệ thống các nguyên tắc làm việc có mục đích sắp xếp công việc trong một tổ chức nhằm đảm bảo rằng: - Các mục đích và sứ mệnh của tổ chức đó là rõ ràng và được tất cả mọi người trong nhà trường biết đến [tính minh bạch]. - Có các hệ thống quản lý làm việc và ở đó công việc được sắp xếp trôi chảy, hết sức rõ ràng, và tất cả mọi người trong tổ chức đều phải được biết [tính kế hoạch]. - Mọi người luôn hiểu rõ ai chịu trách nhiệm về cái gì [tính chịu trách nhiệm]. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quan niệm thế nào là chất lượng trong tổ chức đó phải được quy định trên giấy tờ và được sự đồng lòng của tất cả mọi người [tính nhất trí và quy định rõ chuẩn mực].
- Có một hệ thống nhằm kiểm tra rằng tất cả công việc đều được làm theo kế hoạch; khi có gì sai sót và chắc chắn sẽ có sai sót có những phương pháp đã được đồng ý trước để sửa chửa các sai sót đó [các cơ chế đảm quản lý chất lượng].[9] Như vậy, quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng giúp các tổ chức có thể đảm bảo mọi hoạt động đều được làm theo kế hoạch theo sự phân công trách nhiệm rõ ràng và được mọi người nhất trí. Với công cụ quản lý này, các sai sót trong quá trình thực hiện dễ dàng được phát hiện và sửa chữa kịp thời trước khi đưa ra sản phẩm. Đảm bảo chất lượng như một hệ thống quản lý chất lượng, những mục tiêu được đề ra ngay từ đầu của một tổ chức sẽ được thực hiện dễ dàng và có kết quả cao. Các khái niệm công cụ 1.
Quản lý Khái niệm quản lý được phát biểu dưới hiều hình thức, nội dung khác nhau xuất phát từ các góc nhìn khác nhau về quản lý. Đối với các nhà lý luận quản lý quốc tế kinh điển như: Frederich Wiliam Taylor (1856 – 1915), Mỹ; Henri Fayol (1841 – 1925), Pháp; Max Weber (1864 – 19200, Đức; … thì đều cho rằng quản lý là khoa học và là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội. Với lý luận của Mác lại cho rằng: “Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng”. Một số tác giả Việt Nam như Nguyễn Hoàng Toàn, Hồ Văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Duy Quí, Bùi Trọng Tuân, … cũng đưa ra những khái niệm về quản lý ….
Theo giáo trình Khoa học quản lý, Tập 1. Nxb Khoa học kỹ thuật. Hà Nội, 1999 đã ghi rõ: “Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý là một họat động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực các nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó …” [20] Có tác giả lại cho rằng quản lý là tác động vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội. Các nghiên cứu về lý luận quản lý từ những lý luận và quan điểm của những tác giả trên cho thấy nổi lên các khuynh hướng sau: Thứ nhất, nghiên cứu lý luận quản lý theo quan điểm điều khiển học và lý thuyết hệ thống. Theo đó quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ thống có tổ chức với các bản chất khác nhau như như sinh học, xã hội, kinh tế, kỹ thuật v.v … Quản lý là tác động hợp qui luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển.
Thứ hai, nghiên cứu quản lý được xem như là một hoạt động, một lao động tất yếu trong các tổ chức. Thứ ba, nghiên cứu quản lý với tư cách là một quá trình trong đó các chức năng quản lý được thực hiện theo một trình tự và chúng tương tác qua lại với nhau. Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt mục đích đã xác định. [15] Dù quản lý được định nghĩa theo nhiều các khác nhau như vậy, nhưng các định nghĩa đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản và bao gồm các yếu tố sau: + Chủ thể quản lý: Có thể là cá nhân hoặc nhiều người đóng vai trò là tác nhân tạo ra các tác động, là trung tâm thực hiện những hoạt động tổ chức, khai thác, những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý.
+ Đối tượng quản lý: Có thể là một người hoặc nhiều người trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng làm nguồn lực của tổ chức. Đối tượng quản lý chịu sự tác động của chủ thể quản lý. + Công cụ quản lý: là phương tiện, giải pháp của chủ thể quản lý được sử dụng để định hướng, dẫn dắt, khích lệ, phối hợp các hoạt động của con người và các bộ phận trong một tổ chức trong việc thực hiện mục tiêu đề ra. Như vậy, công cụ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập phương thức hoạt động cho hoạt động quản lý.
Công cụ quản lý có tác động trực tiếp trong việc xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đến việc định hướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh các hoạt động trong tổ chức. Công cụ quản lý được thể hiện dưới những hình thức khác nhau: Công cụ hình thức như hiến pháp, pháp luật, điều lệ, nội qui, qui định, … của tổ chức dùng để định hướng, vận hành, điều chỉnh những quan hệ và hoạt động trong tổ chức. Công cụ phi hình thức: văn hóa của tổ chức, phong tục, tập quán, truyền thống, tiền lệ, … cũng có tác dụng đinh hướng, vận hành, điều chỉnh những quan hệ và hoạt động trong tổ chức. Quản lý giáo dục Thực tiễn giáo dục thì đã có từ lâu nhưng lý luận về quản lý giáo dục thì mới chỉ manh nha xuất hiện từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, và cũng đã có nhiều quan điểm khác nhau về các mô hình về quản lý giáo dục: Quan điểm hiệu quả: là quan điểm ra đời vào thập niên đầu của thế kỷ XX, theo quan điểm này thì quản lý giáo dục phải được thực hiện sao cho hiệu số giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống giáo dục phải cực đại.
Quan điểm hiệu quả được xuất phát từ những tư tưởng quản lý kinh tế áp dụng cho giáo dục. Quan điểm kết quả: là quan điểm chú ý đến đạt mục tiêu giáo dục nhiều hơn chú ý đến hiệu quả kinh tế của nó. Quan điểm hiệu quả ra đời vào những năm 20 của thế kỷ XX, dựa trên cơ sở là khoa học tâm lý sư phạm. Quan điểm đáp ứng: Ra đời trong những năm 60 của thế kỷ XX, hướng tới việc làm cho hệ thống giáo dục phục vụ đáp ứng các đòi hỏi của sự phát triển đất nước, phát triên xã hội.
Quan điểm đáp ứng dựa trên cơ sở khía cạnh chính trị của giáo dục. Quan điểm phù hợp: Ra đời những năm 70 của thế kỷ XX, quan điểm này hướng tới đạt mục tiêu phát triển giáo dục trong điều kiện bảo tồn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Cơ sở của quan điểm này dựa trên vấn đề văn hóa. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến ngày nay, quản lý giáo dục thực sự đã trở thành một chuyên ngành khoa học đang phát triển đã trải qua nhiều biến đổi, bổ sung và ngày một phong phú.
Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội nhưng có một đặc trưng riêng là đào tạo con người. Do đó, quản lý giáo dục có đầy đủ những yếu tố của quản lý nói chung nhưng lại phải đảm bảo những nguyên tắc riêng của quản lý giáo dục. Đó là, nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp cầm quyền. Chẳng hạn, quản lý giáo dục ở Việt Nam phải đảm bảo nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam.
Nguyên tắc này đòi hỏi mọi chủ trương, chính sách giáo dục phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Nguyên tắc pháp chế: Các cơ quan quản lý giáo dục phải tuân thủ qui chế quản lý hành chính của bộ máy nhà nước.