phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động đảm bảo chất lượng theo chuẩn. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng theo chuẩn của trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường Cao đẳng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về Quản lý đảm bảo chất lƣợng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng giáo dục Mọi tổ chức muốn phát triển bền vững, các nhà hoạch định, quản lý cần phải chú trọng đến yếu tố văn hóa chất lượng, coi đó là tâm điểm để khẳng định mình, để phân biệt, đánh giá và lựa chọn đối tượng, nghĩa là phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm, chất lượng hoạt động của mình. Nhưng chất lượng không tự nhiên sinh ra, mà là kết quả tác động của hàng loạt yếu tố và quá trình có liên quan. Muốn đạt được chất lượng mong muốn với các mục tiêu đáp ứng đánh giá từ bên ngoài hay theo nhu cầu tự thân của một tổ chức, cần phải quản lý các yếu tố của quá trình này. Toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được tiến hành trong hệ thống quản lý đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng rằng đối tượng sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng được hiểu là hoạt động đảm bảo chất lượng.
Có nhiều định nghĩa khác nhau của các chuyên gia về quản lý chất lượng, song cho dù đề cập đến khái niệm quản lý chất lượng từ góc độ nào, các nhà nghiên cứu cũng thống nhất ở một điểm chung đó là thiết lập chuẩn, đối chiếu thực trạng so với chuẩn và có các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn. Đảm bảo chất lượng là một mô hình quản lý chất lượng ở mức cao hơn so với mô hình kiểm soát chất lượng. Mô hình quản lý này đã khắc phục được những hạn chế của mô hình quản lý trước đó là đưa hệ thống thiết kế vào quản lý chất lượng ngay từ đầu, nhấn mạnh tới đảm bảo chất lượng chứ không phải phát hiện và loại bỏ những sản phẩm không đáp ứng yêu cầu. Do đó, ĐBCL là chiến lược ngăn ngừa việc sản xuất ra những phế phẩm.
Ở nhiều nước phát triển trên thế giới và trong khu vực như Hoa kỳ, Canađa, Nhật bản, Hàn Quốc, Anh, Trung quốc, Xinh ga po từ lâu họ đã rất chú trọng đến quản lý đảm bảo chất lượng theo bộ chuẩn đánh giá chất lượng dạy và học của các nhà trường, được công bố rộng rãi và thế giới thừa nhận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập đến quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng như GS.TS Nguyễn Đức Chính với tác phẩm “Kiểm định chất lượng giáo dục đại học”[8], GS.TS Nguyễn Hữu Châu với “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục” [7].và đây nhất là công trình nghiên cứu của tác giả Trần trọng Hà với đề tài “Quản lý hoạt động ĐBCL theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT tại Trường Trung học phổ thông Yên Hòa” [13] ., tuy nhiên việc triển khai quản lý hoạt động ĐBCL theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường cao đẳng chưa thực sự được nghiên cứu một cách có hệ thống và triệt để. Mỗi công trình nghiên cứu đã giúp cho từng cấp học, bậc học có cơ hội tiếp cận cách quản lý mới theo bộ tiêu chuẩn do Bộ GD & ĐT đã ban hành. Để nâng cao thêm hiểu biết của bản thân và mong muốn đưa việc quản lý ĐBCL theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường cao đẳng vào thực tiễn quản lý đối với trường CĐSPTW, bản thân em nghiên cứu vấn đề “Quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng tại trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường cao đẳng ” Thông qua quản lý hoạt động ĐBCL theo chuẩn sẽ giúp các tổ chức trong nhà trường có thể đảm bảo mọi hoạt động đều được làm theo kế hoạch theo sự phân công trách nhiệm rõ ràng và được mọi người nhất trí.
Với công cụ quản lý này, các sai sót trong quá trình thực hiện dễ dàng được phát hiện và sửa chữa kịp thời trước khi đưa ra sản phẩm. ĐBCL như một hệ thống quản lý chất lượng, những mục tiêu được đề ra ngay từ đầu của một tổ chức sẽ được thực hiện dễ dàng và có kết quả cao. Các khái niệm công cụ 1.Quản lý Khái niệm quản lý được phát biểu dưới nhiều hình thức, nội dung khác nhau xuất phát từ các góc nhìn khác nhau về quản lý. Đối với các nhà lý luận quản lý Quốc tế kinh điển như: Frederich Wiliam Taylor (1856 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1915), Mỹ; Henri Fayol (1841 - 1925), Pháp; Max Weber (1864 - 19200, Đức [18] … thì đều cho rằng quản lý là khoa học và là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Với lý luận của Mác lại cho rằng: “Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng”. Một số tác giả Việt Nam như Nguyễn Hoàng Toàn, Hồ Văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Duy Quí, Bùi Trọng Tuân.[18] cũng đưa ra những khái niệm về quản lý. Theo giáo trình Khoa học quản lý, Tập 1. Nxb Khoa học kỹ thuật.
Hà Nội, 1999 đã ghi rõ: “Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức. Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực các nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó …” [19] Có tác giả lại cho rằng quản lý là tác động vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Các nghiên cứu về lý luận quản lý từ những lý luận và quan điểm của những tác giả trên cho thấy nổi lên các khuynh hướng sau: Thứ nhất, nghiên cứu lý luận quản lý theo quan điểm điều khiển học và lý thuyết hệ thống. Theo đó quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ thống có tổ chức với các bản chất khác nhau như như sinh học, xã hội, kinh tế, kỹ thuật v.v … Quản lý là tác động hợp qui luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển. Thứ hai, nghiên cứu quản lý được xem như là một hoạt động, một lao động tất yếu trong các tổ chức. Thứ ba, nghiên cứu quản lý với tư cách là một quá trình trong đó các chức năng quản lý được thực hiện theo một trình tự và chúng tương tác qua LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lại với nhau.
Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt mục đích đã xác định [11]. Dù quản lý được định nghĩa theo nhiều các khác nhau như vậy, nhưng các định nghĩa đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản và bao gồm các yếu tố sau: + Chủ thể quản lý: Có thể là cá nhân hoặc nhiều người đóng vai trò là tác nhân tạo ra các tác động, là trung tâm thực hiện những hoạt động tổ chức, khai thác, những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý. + Đối tượng quản lý: Có thể là một người hoặc nhiều người trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng làm nguồn lực của tổ chức. Đối tượng quản lý chịu sự tác động của chủ thể quản lý.
+ Công cụ quản lý: là phương tiện, giải pháp của chủ thể quản lý được sử dụng để định hướng, dẫn dắt, khích lệ, phối hợp các hoạt động của con người và các bộ phận trong một tổ chức trong việc thực hiện mục tiêu đề ra. Như vậy, công cụ quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập phương thức hoạt động cho hoạt động quản lý. Công cụ quản lý có tác động trực tiếp trong việc xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đến việc định hướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh các hoạt động trong tổ chức. Công cụ quản lý được thể hiện dưới những hình thức khác nhau: Công cụ hình thức như hiến pháp, pháp luật, điều lệ, nội qui, qui định, … của tổ chức dùng để định hướng, vận hành, điều chỉnh những quan hệ và hoạt động trong tổ chức.
Công cụ phi hình thức: văn hóa của tổ chức, phong tục, tập quán, truyền thống, tiền lệ, … cũng có tác dụng đinh hướng, vận hành, điều chỉnh những quan hệ và hoạt động trong tổ chức [13]. Quản lý giáo dục Thực tiễn giáo dục thì đã có từ lâu nhưng lý luận về quản lý giáo dục thì mới chỉ manh nha xuất hiện từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, và cũng đã có nhiều quan điểm khác nhau về các mô hình quản lý giáo dục: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm hiệu quả: là quan điểm ra đời vào thập niên đầu của thế kỷ XX, theo quan điểm này thì quản lý giáo dục phải được thực hiện sao cho hiệu số giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống giáo dục phải cực đại. Quan điểm hiệu quả được xuất phát từ những tư tưởng quản lý kinh tế áp dụng cho giáo dục. Quan điểm kết quả: là quan điểm chú ý đến đạt mục tiêu giáo dục nhiều hơn chú ý đến hiệu quả kinh tế của nó.
Quan điểm hiệu quả ra đời vào những năm 20 của thế kỷ XX, dựa trên cơ sở là khoa học tâm lý sư phạm. Quan điểm đáp ứng: Ra đời trong những năm 60 của thế kỷ XX, hướng tới việc làm cho hệ thống giáo dục phục vụ đáp ứng các đòi hỏi của sự phát triển đất nước, phát triên xã hội. Quan điểm đáp ứng dựa trên cơ sở khía cạnh chính trị của giáo dục.