phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục chữ viết tắt, bảng, biểu và sơ đồ, nội dung chính của đề án tốt nghiệp bao gồm: PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN PHẦN 2. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN PHẦN 3. CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 5 PHẦN 1. CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.
Khái quát về chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm, đặc điểm chi thường xuyên NSNN “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Luật Ngân sách nhà nước, 2015). “Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương bao gồm các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương” (Luật Ngân sách nhà nước, 2015).
Chi thường xuyên ngân sách nhà nước là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ thường xuyên, yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT-XH. Theo Đặng Văn Du và Bùi Tiến Hanh (2010), đặc điểm chi thường xuyên ngân sách nhà nước bao gồm: Thứ nhất, hầu hết các khoản chi thường xuyên ngân sách nhà nước mang tính ổn định. Tính ổn định trong chi thường xuất phát từ sự tất yếu phải thực hiện các hoạt động của Nhà nước về quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, quốc phòng an ninh. Đặc biệt những hoạt động này phải được duy trì một cách thường xuyên liên tục nhằm đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng không thể thiếu cho xã hội.
Biểu hiện của đặc điểm này chính là tổng mức chi, nội dung và cơ cấu chi thường xuyên ngân sách nhà nước có sự biến động không lớn qua các năm trong thời kỳ ổn định ngân sách. Cho dù nền kinh tế đang trong thời kỳ phát triển hay suy thoái thì những công việc như chi lương, nghiệp vụ chuyên môn các lĩnh vực quản lý nhà nước, an ninh, quốc phòng,. vẫn phải duy trì đều đặn và đầy đủ chỉ khác nhau ở thứ tự ưu tiên trong mỗi thời kỳ. 6 Thứ hai, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên ngân sách nhà nước có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội.
Chi thường xuyên ngân sách nhà nước chủ yếu gắn với thực hiện các nhiệm vụ chi thường xuyên hàng năm thuộc chức năng của trung ương và địa phương. Các nhu cầu chi đều nhằm duy trì sự tồn tại và hoạt động ổn định của các cơ quan, đơn vị cấp trung ương và địa phương, từ đó đáp ứng các nhu cầu công cộng. Hiệu lực tác động của các khoản chi thường xuyên ngân sách nhà nước chủ yếu là theo từng năm ngân sách. Đại bộ phận các khoản chi thường xuyên ngân sách nhà nước được xếp vào chi tiêu dùng nhằm trang trải các nhu cầu về quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, các hoạt động sự nghiệp và các hoạt động xã hội khác do nhà nước tổ chức.
Các hoạt động trên hầu như không tạo ra của cải vật chất hoặc không gắn trực tiếp với việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội mỗi năm. Thứ ba, phạm vi và mức độ chi thường xuyên ngân sách nhà nước gắn chặt với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa công cộng. Vai trò của chi thường xuyên ngân sách là nhằm đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên thuộc chức năng của cấp trung ương và địa phương. Mà việc thực chi các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước lại thuộc về bộ máy nhà nước cấp trung ương và địa phương.
Bên cạnh đó, nhà nước cấp trung ương đều có chức năng, nhiệm vụ đảm bảo quyền và lợi ích cơ bản của các pháp nhân, thể nhân trong xã hội thông qua việc cung cấp hàng hóa công cộng. Tuy nhiên, mỗi thời kỳ đều có sự lựa chọn khác nhau trong cung ứng hàng hóa công cộng. Do đó, chỉ thường xuyên ngân sách trung ương gắn liền với bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa công cộng. Biểu hiện của đặc điểm này ở chỗ cơ cấu, tổ chức bộ máy nhà nước luôn gắn liền với quy mô, cơ cấu chi.
Phạm vi và mức độ cung cấp hàng hóa công cộng của nhà nước, mức độ xã hội hóa cung ứng hàng hóa công cộng cũng ảnh hưởng tới phạm vi và quy mô chỉ thường xuyên. Nếu bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên cho nó được giảm bớt và ngược lại. Các quyết định của nhà nước, của trung ương trong việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa công cộng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên ngân sách nhà nước. Nội dung chi thường xuyên NSNN Nội dung chi thường xuyên ngân sách nhà nước được phân biệt theo lĩnh vực chi và nội dung kinh tế, cụ thể như sau: Theo lĩnh vực chi trả, chi thường xuyên ngân sách nhà nước bao gồm: Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế, gồm: sự nghiệp giao thông, kiến thiết thị chính, thủy lợi, ngư nghiệp và lâm nghiệp; sự nghiệp khí tượng, thủy văn, đo vẽ bản đồ, định canh, định cư và kinh tế mới.
Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế trên nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế - xã hội và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách thuận lợi. Mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế không phải là kinh doanh lấy lãi, do vậy ngân sách nhà nước cần dành một khoản chi đáp ứng hoạt động của các đơn vị này. Chi cho các hoạt động thuộc lĩnh vực sự nghiệp văn hóa - xã hội: hoạt động sự nghiệp văn hóa - xã hội bao gồm chi cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa- nghệ thuật, thể dục - thể thao, phát thanh - truyền hình, sự nghiệp khoa học. Chi quản lý hành chính: là các khoản chi cho hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước thuộc bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương.
Chi về hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân Việt Nam. Chi cho quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội: số chi này gồm các lĩnh vực: quân đội, công an, các đơn vị lực lượng vũ trang. Chi khác: ngoài các khoản chi lớn đã được sắp xếp vào năm lĩnh vực trên, còn có một số khoản chi khác cũng được sắp xếp vào cơ cấu chi thường xuyên như: Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước, chi hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội, chỉ các chương trình mục tiêu quốc gia, chi trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội. Việc phân loại các khoản chi thường xuyên theo từng lĩnh vực chi có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích, đánh giá tình hình sử dụng ngân sách nhà nước ở mỗi lĩnh vực.
Trên cơ sở đó, các nhà quản lý sẽ có điều kiện điều chỉnh việc hoạch 8 định các chính sách chi ngân sách nhà nước cho phù hợp và đưa ra biện pháp hoàn thiện cơ chế quản lý đối với mỗi khoản chi thường xuyên. Theo nội dung kinh tế, chi thường xuyên NSNN của đơn vị quản lý hành chính bao gồm: Chi thanh toán cá nhân: là các khoản chi liên quan trực tiếp đến con người, bao gồm: tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, tiền thưởng, các khoản đóng góp theo tiền lương và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo chế độ Nhà nước quy định đối với cán bộ sĩ quan, người lao động trong quân đội. Đây là nhóm chi chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi thường xuyên NSĐP, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người lao động nên nhóm mục chi này đòi hỏi phải thực hiện nghiêm túc, công bằng và đúng chính sách, chế độ. Chi nghiệp vụ chuyên môn: Hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của các đơn vị thụ hưởng NSNN, đặc biệt là các đơn vị quản lý hành chính thì đó là: thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, thông tin, tuyên truyền, liên lạc, hội nghị, công tác phí trong nước, chi cho các đoàn đi công tác nước ngoài và đón các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam, chi nghiệp vụ chuyên môn khoa học và in ấn, xuất bản bản tin khoa học.
Tuy nhiên ta có thể nhóm các nội dung chỉ của nhóm mục vào theo 2 tiêu chí gắn liền với mục đích của các khoản chi: (i) chi để đảm bảo hoạt động chung của đơn vị; (ii) và các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn đặc thù. Được tính vào chi nhằm đảm bảo cho hoạt động chung của mỗi đơn vị bao gồm các khoản chi như: chi tiền điện, tiền nước, tiền vệ sinh phát sinh tại công sở; các khoản chi mà đơn vị phải thanh toán cho bưu chính, viễn thông; chi lễ tân, khánh tiết; chi tiền chè, nước, văn phòng phẩm dùng cho toàn đơn vị và các khoản chi phí chung khác. Được tính vào chỉ nghiệp vụ chuyên môn phải là những khoản mà xét về nội dung kinh tế của nó phải thực sự phục vụ cho hoạt động của đơn vị đó. Ví dụ: các chi phí về thuê mướn chuyên gia, giáo viên để tư vấn hay đào tạo cho đội ngũ nghiên cứu; chi phí nghiên cứu hội nghị, hội thảo khoa học.
Đây là khoản chi ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công việc của các đơn vị nên yêu cầu phải sử dụng tiết kiệm, chống lãng phí. 9 Chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏ gồm: mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm việc, sửa chữa lớn tài sản cố định và các khoản khác.