Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước Chương 2: Cơ sờ lý luận Chương 3: Thực trạng về công tác quân lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước. Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác chi thường xuyên ngân sách nhà nước.TỎNG QUAN CÁC NGHIÊN cứu TRƯỚC 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Một số nghiên cứu sử dụng lý thuyết “bàn tay vô hình” do Adam Smith đưa ra năm 1723 đê đánh giá chức năng và ranh giới của NSNN. Nghiên cứu xác định ba vai trò chính là đâm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng và cải thiện cơ sờ hạ tầng, thúc đây phát triển kinh tế. Adam Smith tin rang nen kinh te vận hành một cách công bằng và có khả năng tự sửa đôi đê đáp ứng với hoàn cảnh.
Đê nền kinh tế phát triển tự do là tình huổng có thể gây ra nguy cơ sụp đổ. Do đó, năng lực quản lý kinh tế vĩ mô của đất nước được phát huy hiệu quả. Theo kết quả nghiên cứu, một cuốn sách dựa trên chương trình và kỳ thuật lập ngân sách của Lawrence Martin và Peter Kettner (1996) đã đối chiếu và minh họa sự phát triên của các giả thuyết nghiên cứu nói trên: của phương pháp lập ngân sách theo kết quả đầu ra trong quá trình thực hiện các chương trình phục vụ người dân. Sử dụng X đô la cho hoạt động A thay vì hoạt động B.
Vì vậy, hiệu quâ sản xuất đang được nghiên cứu và vận dụng trong chi tiêu ngân sách nhà nước của nhiều nước. Gần đây, người ta cũng chú ý đến vai trò của sự biến động, đặc biệt là giá dầu, tỷ lệ lạm phát và tỷ giá hối đoái, trong việc xác định quy mô chi tiêu công (Aregbeyen và Fasanya, 2017; Aladejare, 2019). Ngoài ra, Adamu và Chandana (2019) đã ghi nhận sự gia tăng trong chi tiêu công của Nigeria, cho rằng sự phát triển này là do những thay đổi trong các yếu tố bao gồm thu nhập từ dầu mỏ, tỷ lệ lạm phát, thuế, dân số ngày càng tăng của đất nước, độ mở thương mại và GDP tăng trưởng liên tục của đất nước kích cờ. Phân tích cho thấy những yếu tố này ảnh hường đáng kê đến hiệu suất ngân sách của quốc gia.
Các yểu tố quyết định chi thường xuyên bao gồm quy mô doanh thu của chính phủ, tỷ giá hối đoái, tăng trưởng GDP thực tế, FDI, quy mô nợ công, tỷ lệ lạm phát, giá dầu quốc tế, v. Aladejare (2019), nghiên cứu này cũng sè áp dụng các yếu tố quyết định hàng năm của chi tiêu công do các cơ quan tài chính ở 5 Nigeria thiết lập, đó là tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, giá dầu quốc tế và tốc độ tăng trưởng GDP thực tế. Constantinos (2019) cũng có một kết quâ tương tự khi nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trường kinh tế và chi tiêu của chính phủ của bây nền kinh tế đang chuyển đổi ỡ Đông Nam Âu. Nghiên cứu của ông cho thấy chi tiêu của chính phủ cho việc hình thành vốn, hồ trợ phát triển, đầu tư tư nhân và mô cửa thương mại có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
Yeu tố còn lại, sự gia tăng dân số, được cho là không đáng kể về mặt thống kê. Pula và Elshani (2018) dựa trên lý thuyết Keynes và mô hình tăng trường nội sinh để xem xét tác động của chi tiêu công lên tăng trường kinh tể của Kosovo từ năm 2002 đển năm 2015. Họ đã xây dựng một mô hình trong đó sân phẩm GDP được sử dụng như một biến phụ thuộc và bổn biến độc lập: công chi, đầu tư trực tiếp nước ngoài, xuất khâu và tông thu ngân sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy chi tiêu công và xuất khẩu có tác động tích cực đến tăng trường kinh tế.
Tổng thu ngân sách không có ý nghía thống kê; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài âm và không đáng kể về mặt thống kê. Nghiên cứu của Rahn (2018) được phát triên thêm bời Barro (1990). Barro (1990) cho rằng chi tiêu của chính phủ có tác động nhiều chiều đen nền kinh tế. Giả sử chi tiêu của chính phủ được tài trợ bởi thuế, thì quy mô của chính phũ là tỷ lệ giữa chi tiêu của chính phủ trên tông thu ngân sách và thuế suất có tác động tiêu cực đen tăng trưởng kinh tế.
Việc tăng thuế suất sè làm giâm tăng trưởng kinh tế, nhưng mờ rộng chi tiêu của chính phủ sẽ thúc đẩy tăng trường kinh tế. Barro (1990) cho rằng thông thường khi quy mô chính phủ nhỏ thì tác động của chi tiêu chính phủ là chủ đạo, ngược lại khi quy mô chính phủ lớn thì tác động của thuế sẽ lấn át. Điều này ngụ ý rằng chi tiêu của chính phủ chỉ thúc đẩy tăng trường kinh tế khi tác động tích cực của việc tăng chi tiêu lớn hơn tác động tiêu cực của việc tăng thuế. Ngoài ra, với giâ định rằng chi tiêu của chính phủ được tài trợ bôi thuế, Chen (2019) khẳng định rằng khi thuế suất cao hơn một ngưỡng cụ thể và chi tiêu ban đầu của chính phủ lớn thì chi tiêu chính phủ tăng sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng 6 kinh tế.
Tuy nhiên, nếu chi tiêu ban đầu của chính phủ dưới ngường, chi tiêu chính phủ tăng lên sẽ đẩy nhanh tốc độ tăng trường kinh tế. Hasnul (2020) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế trong trường họp của Malaysia. Ông đã đưa ra một kết luận bất lợi rằng có mối tương quan nghịch giừa chi tiêu của chính phủ và nền kinh tế Malaysia trong giai đoạn 1970-2014. Nghiên cứu của Kalu và Raphael (2016) cũng cho kết quả tương tự.
Bằng cách sử dụng các kỳ thuật hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường với dừ liệu chuồi trong giai đoạn 1981-2013 ở Nigeria, Kalu và Raphael (2016) đã xác nhận rằng tông chi tiêu của chính phủ sẽ không ảnh hưởng đầy đủ đến tăng trưởng kinh tế. Cần có sự họp tác công tư trong việc cấp vốn và quân lý các dự án công. Nhiều học giả đã đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và nền kinh tế thông qua phân tích các yếu tố cấu thành chi tiêu chính phủ. Nworji, Okwu, Obiwuru và Nworji (2012) đà nghiên cứu tác động của chi tiêu công đối với nền kinh tế Nigeria trong giai đoạn 1970-2009.
Họ chia chi tiêu của chính phủ thành sáu thành phần: vốn và chi thường xuyên cho các dịch vụ kinh tế; vốn và chi thường xuyên cho các dịch vụ xã hội và cộng đồng; và vốn và chi thường xuyên về chuyển nhượng. Kết quâ cho thấy trong khi vốn và chi thường xuyên cho các dịch vụ kinh tế có tác động tiêu cực đến tăng trường kinh tế trong giai đoạn nghiên cứu, thì vốn và chi thường xuyên cho các dịch vụ xà hội và cộng đồng, vốn và chi thường xuyên cho chuyển giao có tác động tích cực đến tăng trường kinh tế. Devaraj an, Swaroop và Zou (2017) tập trung vào mối quan hệ giữa các thành phần của chi tiêu chính phủ và tăng trường kinh tế ờ 43 quốc gia đang phát triển từ năm 1970 đến 1990. Ket quả cho thấy sự gia tăng tỷ trọng chi thường xuyên có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê.
Ngược lại, mối quan hệ giữa thành phần vốn của chi tiêu công và tăng trưởng bình quân đầu người là âm. Devaraj an và cộng sự (1996) xác nhận rằng chính phủ các nước đang phát triển đã phân bổ sai chi tiêu công theo hướng chi đầu tư bằng chi thường xuyên. Sugata và Andros (2018) cũng có kết quả tương tự khi sử dụng dữ liệu bảng về 15 quốc gia đang 7 phát triển trong 28 năm đê xem xét mối tương quan giữa các thành phần của chi tiêu chính phủ và tăng trường kinh te. Ket quả cho thấy chi thường xuyên có tác động tích cực và đáng kê đến tốc độ tăng trường, trong khi chi đầu tư có tác động tiêu cực.
Tajudeen và Ismail (2019) đã phân tích tác động của chi tiêu công đổi với tăng trường kinh tế ờ Nigeria trong giai đoạn từ 1970 đến 2010. Họ chia chi tiêu công thành chi đầu tư và chi thường xuyên. Dựa trên kết quả thực nghiệm, nghiên cứu này cho rằng tổng chi tiêu công sẽ không kích thích tăng trường kinh tế Nigeria. Chi thường xuyên được cho là có ít tác động tích cực đến tăng trường kinh tế.
Viranon (2020) đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện công tác quản lý thu và chi ngân sách của tỉnh Luang Prabang của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Công tác quản lý, điều hành ngân sách của tỉnh Luang Prabang trong những năm qua đã từng bước được cải thiện, trọng tâm là nâng cao hiệu quả quân lý thu, chi ngân sách nhà nước của tỉnh. Nhờ vậy, công tác quản lý thu, chi ngân sách của Tinh đã đạt được một số kết quả đáng kể. Tuy nhiên, công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước thường xuyên của tinh Luang Prabang còn nhiều bất cập, chưa giải quyết thỏa đáng nhu cầu phát triên.
Viranon (2020) xem xét thực trạng quản lý thu, chi ngân sách nhà nước ở Luang Prabang trong thời diêm hiện tại, trên co sờ phân tích đó, đề xuất một số giải pháp nham hoàn thiện công tác quản lý thu, chi ngân sách và tăng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân vào bước phát triển mới của đất nước. Tại tỉnh Sulawesi của Indonesia, hiệu quâ chi tiêu ngân sách được đánh giá bởi Sahade (2020). Trong các năm 2009 đến 2013, dừ liệu thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu. Theo nghiên cứu, chi tiêu gián tiếp vần chiếm phần lớn chi tiêu trong khu vực.
Chi tiêu trực tiếp thường được sử dụng cho cả đầu tư ngắn hạn và dài hạn, trong khi chi tiêu gián tiếp chủ yểu được sử dụng cho tiêu dùng. Theo hồ sơ phân bô ngân sách việc lập ngân sách cho các khoản chi thiết yếu chưa được thực hiện tốt. Sự gia tăng phân phối chi tiêu trực tiếp trong tương lai của chính 8 quyền khu vực phía nam Sulawesi được dự đoán sè cân bằng các khoản chi tiêu gián tiếp và thúc đẩy phúc lợi cộng đồng một cách nhanh chóng và bền vừng. Motloli-Litjobo và Makliele (2019) đánh giá những khó khăn trong chi thường xuyên ngân sách sử dụng trong các cơ quan hành chính cấp huyện.
Nghiên cứu đánh giá các phương pháp, quy trình và hệ thống quản lý ngân sách ảnh hường như thế nào đến việc thực hiện các khoản chi ngân sách thông thường.