CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong những năm gần đây, các nhà QLGD, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia trong nước và trên thế giới đã và đang rất quan tâm đến CLGD đại học. Bởi chất lượng GDĐH là phương tiện chủ yếu quyết định CL nguồn nhân lực quốc gia để làm ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, tạo ra giá trị mới và năng lực cạnh tranh lớn.Đến năm 2020, GDĐH phải có bước tiến cơ bản về CL và quy mô, đáp ứng nhu cầu nhân lực cả về CL và số lượng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, và nâng cao tiềm năng trí tuệ, tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, nâng một số trường ĐH lên đẳng cấp quốc tế, góp phần quan trọng vào việc nâng cao sức cạnh tranh của nguồn nhân lực và nền kinh tế đất nước”[12]. Để ĐBCL nguồn nhân lực quốc gia, phải tính toán chiến lược dựa trên các điều kiện quốc tế và tranh thủ hợp tác từ sự phát triển và lợi ích của toàn cầu đem lại, sản phẩm tạo ra phải được thế giới chấp nhận và tiệm cận chuẩn quốc tế.
Các quan niệm về CLĐT, QLCLĐT, ĐBCL ĐT đại học cũng phải thay đổi mạnh mẽ để phù hợp với bối cảnh đổi mới và hội nhập. Theo xu hướng của nhiều nước trên thế giới đã và đang thực hiện đổi mới, cải cách mạnh mẽ GDĐH theo hướng QLCL. Tất cả các cải cách, đổi mới đều hướng vào mục đích đảm bảo CLĐT, đáp ứng sự thỏa mãn của khách hàng. Để thực hiện được nhiệm vụ chiến lược trên, lãnh đạo các trường ĐH cần nhận thức đầy đủ về vai trò của QLCL trong sự tồn tại và phát triển của nhà trường, trong đó các trường ĐHĐP là những mắt xích hình thành nên hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần đảm bảo CL nguồn nhân lực quốc gia.
Trong sự phát triển của GD và ĐT đã có sự đóng góp quan trọng của nhiều công trình nghiên cứu về CLĐT đại học, QLCLĐT đại học và ĐBCL đào tạo ĐH trong nước và trên thế giới. Nghiên cứu về chất lượng đào tạo đại học Chất lượng GDĐH luôn là chủ đề được nhiều học giả, các chuyên gia, các nhà QLGD trong nước và trên thế giới quan tâm với nhiều khía cạnh, bình diện khác nhau. Bởi CLGD ĐH có ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế, văn hóa của mỗi nước và tác động vào đời sống của con người ở mọi tầng lớp trong xã hội. Các nghiên 8 cứu trước đây đã cho thấy có những cách tiếp cận khác nhau về CLGD đại học.
Tác giả Frazer Malcolm [118, tr.101-111] quan niệm rằng: “CLGD đại học là phát triển nguồn nhân lực để tạo ra mặt bằng dân trí có chất lượng cao, CLGD đại học chính là CL nguồn nhân lực quốc gia”. Với cách tiếp cận khác, tác giả Brubacher [88] cho rằng:“CLGD đại học được thể hiện ở việc đạt được những trách nhiệm xã hội mà GDĐH phải gánh vác, đại học với ý nghĩa là trung tâm tri thức. CLGD đại học được hợp thành từ chất lượng của tất cả các trường đại học. Không thể có một nền GDĐH có chất lượng nếu đa số chất lượng của các trường đại học ở mức thấp kém, không hoàn thành sứ mệnh mà xã hội giao cho”.
Một cách tiếp cận sát với thực tiễn hơn khi tác giả David Andrew Turner [95] quan niệm: “ Giáo dục chất lượng cao là giáo dục đáp ứng nhu cầu của SV và hỗ trợ sự phát triển trong tương lai của họ.” Ở một góc độ tiếp cận hệ thống hơn, các tác giả Harvey và Green đã có các quan niệm về CLGD đại học như sau: “CL là sự vượt trội; CL là sự hoàn hảo nhất quán; CL là sự phù hợp với mục tiêu; CL được đánh giá bằng chi phí tài chính; CL được phản ánh ở giá trị chuyển đổi tạo ra giá trị gia tăng”. Cùng với vấn đề nghiên cứu trên, tác giả Nguyễn Đức Chính đã có những tổng kết hiện nay trên thế giới có 6 quan niệm về CLGD đại học như sau [16, tr.23-26]: (1) Chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”. Theo quan điểm này, một trường ĐH có chất lượng cao nếu tuyển được nhiều SV giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy có uy tín, có CSVC tốt và trang thiết bị hiện đại,.Nếu theo quan niệm này thì CL “đầu vào” quyết định toàn bộ CLGD của nhà trường và không quan tâm đến “quá trình” và “đầu ra”. (2) Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”, với quan niệm này cho rằng trường ĐH có chất lượng cao nếu đào tạo được nhiều sinh viên tốt nghiệp giỏi, thực hiện được nhiều công trình khoa học có giá trị, thu hút nhiều người đến học.
(3) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”, đây là một quan niệm cho rằng SV sau khi tốt nghiệp (được đào tạo) sẽ có sự phát triển vượt bậc về trí tuệ và nhân cách. 9 (4) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”, theo quan niệm này, trường ĐH có chất lượng cao nếu có đội ngũ cán bộ giảng dạy, các nhà khoa học có uy tín lớn. (5) Chất lượng được đánh giá bằng “văn hóa tổ chức riêng”, với quan niệm trường đại học có chất lượng cao nếu có được một truyền thống tốt đẹp về hoạt động không ngừng nâng cao CLĐT. (6) Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm toán”.
Theo quan niệm này, trường đại học có chất lượng cao nếu kết quả kiểm toán chất lượng cho thấy nhà trường có thu thập đủ thông tin cần thiết, sự hợp lý và hiệu quả của quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng. Tác giả Phạm Thành Nghị [63, tr.30] với cách tiếp cận đi sâu nghiên cứu về CL và CLGD đại học; các chỉ số, chuẩn mực, hình thức đánh giá, ĐBCL và TQM trong GDĐH, đồng thời tác giả cũng đưa ra các nội dung lý thuyết qua phân tích tổng hợp các trường phái lý thuyết về CLGD đó là: “sự khan hiếm của chất lượng; gia tăng giá trị; xác định theo sứ mệnh và mục tiêu”. Với một góc độ tiếp cận cụ thể hơn, tác giả Trần Khánh Đức [34, tr.33] quan niệm: “CLĐT không chỉ dừng ở kết quả của QTĐT trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như CSVC, ĐNGV,.và còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, các tổ chức sản xuất dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp”. Cách tiếp cận này đã cho thấy khá toàn diện về CLĐT của CSĐT đại học phụ thuộc vào nhiều thành tố, trong đó phải kể đến đầu vào, QTĐT và đầu ra; một vòng tròn khép kín từ khi người học vào trường đến khi người học tốt nghiệp và được thị trường lao động chấp nhận.
Từ những cách tiếp cận của các chuyên gia, các nhà khoa học trên đã cho thấy CLGD ĐH có rất nhiều quan niệm, cách hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau. Mỗi tác giả đều có một cách tiếp cận theo cách riêng của mình, nhưng tựu chung lại CLGD ĐH là ĐBCL đầu vào, quá trình và đầu ra thích ứng trong mọi hoàn cảnh. Tuy nhiên, nếu theo các cách tiếp cận trên, có thể nhận thấy một số hạn chế sau: 10 - Chất lượng GDĐH không phải do bản thân CSĐT đánh giá mà phải được đánh giá từ chính người học, đơn vị sử dụng nhân lực qua đào tạo; - Chất lượng GDĐH phù hợp với mục tiêu, vậy mục tiêu cần được xác định rõ người học, nhà trường hay toàn xã hội; - Chất lượng GDĐH nếu chỉ đánh giá qua “Đầu vào”, hay “Đầu ra”hoặc “Giá trị gia tăng”, “Giá trị học thuật”, “Văn hóa tổ chức riêng”, “Kiểm toán”,. thì chưa phản ánh một cách toàn diện.
Bởi CLGD đại học chính là hệ quả của hệ thống ĐBCL mà ở đó bao gồm: Tiểu hệ thống quản lý các yếu tố đầu vào, tiểu hệ thống QL các yếu tố quá trình và tiểu hệ thống QL các yếu tố đầu ra. Các tiểu hệ thống QLCL này cần được vận hành đồng bộ, thông suốt trong toàn bộ các khâu của QTĐT. Nghiên cứu về quản lý chất lượng đào tạo đại học Những năm 80 của thế kỷ XX, đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về QLCL trong lĩnh vực Giáo dục. Các công trình nghiên cứu đã tập trung đưa ra các khái niệm về CL, QLCL trong Giáo dục, các thành tố để thiết lập hệ thống QLCL.Ellis, Ellis (1993) [96] quan niệm: “Trong môi trường kinh doanh, QLCL được xem là một quá trình nơi mà một nhà máy sản xuất đảm bảo với khách hàng là sản phẩm hay dịch vụ của mình luôn đáp ứng được các chuẩn mực”.
Với một cách tiếp cận khác, D.5-6] quan niệm rằng: “QLCL là bao gồm các hệ thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng”. Đặc biệt là Jonk West- Burnham (1997) đã nghiên cứu tổng hợp các vấn đề về QLCL trong giáo dục là hệ thống các quan niệm về CL, khách hàng, văn hóa, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, quản lý quá trình. Ở trong nước, nhiều tác giả đã nghiên cứu về QLCL trong Giáo dục như Nguyễn Đức Chính, Phan Văn Kha, Nguyễn Tiến Hùng, Trần Khánh Đức, Phạm Thành Nghị, Nguyễn Xuân Thức, Bùi Minh Hiền, Vũ Quốc Bình, Nguyễn Vũ Bích Hiền,.và nhiều luận án, luận văn, bài báo, công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể như sau: 11 - Tác giả Nguyễn Đức Chính [16, tr.40] cho rằng: “QLCL trong GD là một phương thức có công cụ chủ yếu là Bộ chuẩn bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo và các quy trình thực hiện các tiêu chuẩn đó”. - Nhiều tác giả cho rằng QLCL thực chất bao gồm các hoạt động sau: + Thiết lập chuẩn; + Đối chiếu thực trạng so với chuẩn; + Xây dựng các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn.
Ba hoạt động này được tiến hành đồng thời, liên tục thông qua một hệ thống QLCL. Hệ thống QLCL bao gồm các bộ phận cấu thành bởi: + Danh mục các lĩnh vực cần quản lý (tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo); + Những quy trình thực hiện các công việc để đạt được các chỉ báo, tiêu chí, tiêu chuẩn (danh mục các công việc và bản hướng dẫn thực hiện các công việc). Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành các bước trong quy trình thực hiện các công việc [16, tr.