Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Trung ho ̣c phổ thông. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Trung ho ̣c phổ thông Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Trung ho ̣c phổ thông Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NGHIỆP VỤ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấ n đề 1. Trên thế giới Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi HĐBD giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển GD. Việc tạo mọi điều kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp với sự phát triển KT-XH là phương châm hành động của các cấp QLGD. Tại Nhật Bản, việc BD và đào tạo lại cho đội ngũ GV, CBQL giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm.
Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý GD đề ra các phương thức BD khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Ở Philippin, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ GV không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức BD thành từng khóa học trong thời gian HS nghỉ hè. Ở Ấn độ vào năm 1988 đã quyết định thành lập hàng loạt các trung tâm học tập trong cả nước nhằm tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người. Việc bồi dưỡng GV được tiến hành ở các trung tâm này đã mang lại hiệu quả rất thiết thực.
Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng GV được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện GD cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Hội nghị UNESCO tổ chức tại Nepal vào năm 1998 về tổ chức QL nhà trường đã khẳng định: “Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”. Đại đa số các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada … đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng GV để tạo điều kiện thuận lợi cho GV tham gia học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Nhà giáo dục học V.
Xukhômlinxki cho rằng: “Phải bồ i dưỡng đội ngũ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo viên , phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm , phải biết lựa chọn giáo viên bằng nhiều nguồn khác nhau và bồ i dưỡng họ trở thành những giáo viên tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng các biện pháp khác nhau”[19, tr. Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được tổ chức để giảng dạy và giáo dục HS là lớp học. Hình thức tổ chức dạy học, GD theo lớp được hình thành từ thế kỉ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc JA. Mô hình lớp học được duy trì và ngày càng phát triển mạnh mẽ ở khắp các nước trên thế giới.
Không những vậy, mô hình lớp học được phát triển và mở rộng, tùy thuộc vào điều kiện thực tế, song bao giờ một lớp học vẫn cần người QL. Để QL lớp học, nhà trường cử ra một trong những GV đang giảng dạy làm GVCNL. GVCNL được hiệu trưởng nhà trường lựa chọn từ những GV ưu tú có kinh nghiệm GD, có uy tín trong HS, được hội đồng nhà trường nhất trí phân công CNL để thực hiện mục tiêu. Như vậy, khi nói đến GVCNL là nói đến mặt QL và mặt lãnh đạo HS của một lớp.
Từ định hướng trên, các nước phát triển đã chỉ ra những nội dung GD cho HS trung học có liên quan đến công tác CNL. Những nội dung GD học sinh như: GD kĩ năng sống, GD những giá trị sống, GD hướng nghiệp,… 1. Về hoạt động bồi dưỡng giáo viên phổ thông Kể từ khi đất nước thống nhất, việc đào tạo, bồi dưỡng GV phục vụ sự nghiệp GD nước nhà luôn sôi động, vấn đề số lượng, chất lượng đội ngũ GV trong hệ thống GD quốc dân được coi là vấn đề cấp thiết, mang tính thời sự nóng bỏng và sau khi đã tạm ổn về số lượng, vấn đề chất lượng của đội ngũ GV được đặt lên hàng đầu. Vấn đề này được coi trọng trong quá trình đào tạo và được quan tâm ngày càng mạnh mẽ trong quá trình sau đào tạo, quá trình công tác của GV.
Việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng GV được coi là bước thứ hai sau quá trình đào tạo đội ngũ này ở các trường lớp chính quy, chính quy không tập trung. Việc tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng GV luôn là mối quan tâm của các người làm công tác GD, đặc biệt là các cấp QL. Một số HĐBD giáo viên được thực hiện như sau: Từ năm 1993, Bộ GD&ĐT tổ chức các chương trình bồi dưỡng thường 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuyên (BDTX) theo chu kỳ ba năm cho giáo viên THPT. Bộ GD&ĐT đã tổ chức được 3 chu kỳ, bắt đầu là chu kỳ BDTX 1993 -1996; chu kỳ BDTX 1997 - 2000 và chu kỳ BDTX 2001 -2004 và cho đến nay hàng năm Bộ GD &ĐT và các Sở GD&ĐT vẫn tiế n hành BDTX theo các nhóm mô đun đố i với GV và CBQL.
Hiện nay, để nâng cao chất lượng GD, ngành GD&ĐT đã đặt ra yêu cầu trong công tác đào tạo, BD phải được thực hiện thường xuyên và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của mỗi cán bộ, GV trong toàn ngành. Vai trò của việc BDTX cũng được Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển nhấn mạnh: Chương trình BDTX cho GV đã góp phần thiết thực trong việc nâng cao chất lượng dạy - học, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình, SGK mới cho giáo dục phổ thông. BDTX không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan QLGD các cấp, của cơ sở GD mà còn là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi GV [42]. Về định hướng phát triển, chương trình BDTX cho GV giai đoạn 2010-2015, Bùi Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Nhà giáo và CBQL cơ sở GD (Bộ GD&ĐT) cho biết: Chương trình tập trung tăng cường phát triển nghề nghiệp, chú trọng phát triển năng lực thực hành cho GV.
Bồi dưỡng theo nhu cầu của GV, cơ sở GD và lấy nhà trường làm đơn vị BD. Thiết lập các chương trình BD linh hoạt, mềm dẻo, cung ứng đầy đủ, kịp thời hệ thống học liệu phục vụ công tác BD. Chuẩn hóa, xã hội hóa và tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác bồi dưỡng GV. Tăng cường phân cấp trong công tác BDTX cho GV.
Nguyễn Hữu Ân, Trung tâm Nghiên cứu GD & bồi dưỡng GV trường ĐHSP Huế đề xuất việc thực hiện công tác BDTX nên được tiến hành thành 3 giai đoạn: giai đoạn 1, tập trung cung cấp cho GV đầy đủ giáo trình, tài liệu bồi dưỡng. GV tự học, tự nghiên cứu, chú trọng tổ chức học tập theo môn học, học trong từng tập thể sư phạm. Giai đoạn 2, mở các lớp BD tập trung với thời gian hợp lý trong năm học để giảng viên hệ thống hóa kiến thức, cùng trao đổi và giải đáp thắc mắc của GV, giảng sâu thêm một số vấn đề của chuyên đề BD. Giai đoạn 3, đánh giá hoàn thành học phần, cấp chứng chỉ BD [42].
Về quản lý hoạt động bồi dưỡng GV và GVCNL ở các trường phổ thông Bài viết “Phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho giảng viên đại học trong thời đại thông tin” của tác giả Lưu Xuân Mới, Học viện QLGD trong tạp chí Khoa học 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục, số 23 tháng 8/2007 đề cập đến việc phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho người GV thời hiện đại như là tất yếu khách quan và là chìa khóa then chốt để cải thiện chất lượng dạy đại học và có xác định đến một số kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của GV [38]. - Tác giả Bùi Thị Loan trong bài viết “Về công tác BD giáo viên THPT hiện nay” đề cập đến thực trạng chất lượng và điều kiện của công tác đào tạo bồi dưỡng GV hiện nay, có đề xuất các giải pháp là cần quan tâm BD đội ngũ CBQL trường THPT về năng lực đánh giá, phân loại GV, trong đó chú ý nhiều đến kỹ năng phân loại năng lực GV, kỹ năng tác động đến GV, kỹ năng huy động các nguồn lực từ phía GV. Cần BD cho Hiệu trưởng năng lực thiết kế nội dung, xây dựng chương trình bồi dưỡng GV, huấn luyện cho GV năng lực nhận biết, hiểu đối tượng giáo dục và kỹ năng cơ bản trong sử dụng công nghệ thông tin trong QL chuyên môn [30]. - Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành QLGD của Vũ Hoàng Chương với đề tài: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho GV trường THCS huyện Định Quán - tỉnh Đồng Nai” đã đề xuất các giải pháp như xây dựng quy hoạch bồi dưỡng GV, các biện pháp cho công tác bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng thay SGK, tự bồi dưỡng.
Đẩy mạnh công tác thanh tra GV. Chứng nhận lại trình độ nghề nghiệp và nâng chuẩn lại GV. Có kế hoạch cụ thể sử dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ việc dạy. Đồng thời với những biện pháp trên là sự đổi mới thực sự về công tác quản lý về chế độ, chính sách đãi ngộ GV trong tham gia bồi dưỡng, tự bồi dưỡng [12].
- Luận văn Thạc sĩ năm 2006 của Mai Văn Nhân với đề tài “Các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ GV THPT tỉnh Sóc Trăng” có đề cập đến các giải pháp như nâng cao nhận thức về công tác bồi dưỡng GV, quy hoạch công tác bồi dưỡng GV THPT, đa dạng hoá các hình thức bồi dưỡng GV, cải tiến, đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp bồi dưỡng,. - Luận văn Thạc sĩ năm 2009 của Trịnh Hùng Cường với đề tài “Thực trạng và biện pháp quản lý bồi dưỡng GV trường THPT ở các huyện trong tỉnh Cà Mau” có đề ra các giải pháp quản lý mục tiêu, chương trình bồi dưỡng GV [14].