CHƯƠNG Il: QUAN HỆ NHẬT-MỸ TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH DEN NAY (1991-2010) 1. Tổng quan vẻ chính sách đối ngoại của Nhật Bản va Mỹ từ sau chiến tranh lạnh đến nay 1. Quan hệ chính trị-ngoại giao 3. Quan hệ An ninh-Quốc phòng.
Tai khang định Hiệp ước An ninh Nhật-Mỹ 10 3. Hợp tác An ninh- Quốc phòng Nhật-Mỹ ve việc giải quyết các van dé quốc 4. Quan hệ Kinh tế-Thương mại 41. Quan hệ thương mại.
Quan hệ đầu tư. CHƯƠNG |: LICH SỬ VÀ NHỮNG NHÂN TO TÁC ĐỘNG DEN QUAN HỆ NHẬT-MỸ. Mối quan hệ truyền thống Nhật-Mỹ trước chiến tranh lạnh chấm dứt. Quan hệ Nhật-Mỹ trước chiến tranh thé giới thứ 1 Nhật Bản là quốc gia từ lâu đã được các nước Phương Tây dòm ngó và đặc biệt Mỹ cũng rất quan tâm.
Người Mỹ từ lâu đã muốn chiếm lĩnh khu vực Viễn Đông- Thái Binh Dương thông qua các hoạt động kinh tế, dé làm được điều đó mục tiêu hàng đầu của Mỹ là phải lay Nhật Bản là nơi để các hoạt động kinh tế của minh diễn ra được thuận lợi tại khu vực này. Trong thé ki XVIII, các tàu buôn của Mỹ đã từng cập bến Nhật Bản như tau Eliza di Stewart chỉ huy đã hai lan đến Nagasaki vào năm 1748 và 1800. Sau đó chính phủ Hoa Kì cũng liên tiếp cử người đến xin lập quan hệ giao bang vào những năm như 1815, 1816.1852 và đều bị từ chối bởi chỉnh sách đóng cửa của chính quyền Bakufu.' Ngoại giao hỏa bình không đạt, Mỹ liền chuyển sang chính sách "ngoại giao phá ham”. Ngày 8/7/1853 Perry đưa tàu chiến đến vịnh Tokyo gây sức ép đề nghị Nhật ''mở cửa đất nước cho giao lưu thương mại và hữu nghị".
Trước sức mạnh quân sự của Mỹ, sau nhiều lần trì hoãn Nhật buộc phải kí kết với Mỹ hiệp ước Kanagawa vào ngày 31/3/1854. Với những diéu khoản trong hiệp ước này thì Nhật hứa sẽ cung cắp nhiên liệu và thực phẩm cho tau bè Mỹ, cứu trợ thủy thủ Mỹ bị tai nạn và mé hai cảng Shimoda và Hakodate cho tàu thuyên ra vào buôn bán. ngoài ra còn thỏa thuận cho Mỹ đặt lãnh sự quán tại Nhật. Có thể nói rằng, hiệp ước Kanagawa đã mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ Nhật-Mỹ va cũng bắt dau từ day, Nhật phải kí những hiệp ước bat bình đăng với phương Tay”.
Hiệp ước nay đã đặt đấu chấm hết cho chính sách “đóng cửa nhưng * George Samsom (1994), Lịch sử Nhật Ban. NXB KHXH, Hà Nội tr 329 * Ned Xude Binh (1998). “Quan hệ Nhật Bản-Chấu Âu-Hoa Ki giai đoạn trước ky nguyễn Minh Trị: Đóng cửa nhưng không cai then”, tạp chí nghiên cửu Nhật Bnar, tr 29-37 12 không cai then” của chính quyền Bakufu và lịch sử Nhật-Mỹ đã bước sang một trang mới. Sau đó, Nhật và Mỹ đã ki kết hàng loạt các hiệp ước quan hệ và xóa đi các hiệp ước bất bình đẳng trong cuộc Minh Trị Duy Tân day khôn ngoan của chính phủ Nhật Bản.
Đẻ xích lại gần nhau, ngày 27/7/1905 Nhật-Mỹ đã kí kết thỏa thuận xung quanh van dé Philippin, Viễn Đông và Triều Tiên. Mỹ tuyên bố ủng hộ hoàn toan chính sách của Nhật ở Viễn Đông, thừa nhận sự ảnh hưởng của Nhật ở Triều Tiên nhưng đôi lại Nhật cam kết để Mỹ được tự do hành động ở Philippin. Mặc dù có những nhượng bộ như thế nhưng không vi thế ma quan hệ Nhật-Mỹ được cải thiện. Mỹ cũng tỏ ra rất lo ngại khi thấy Nga-Nhật càng trở nên thân thiện và xích lại gần nhau sau chiến tranh Nga-Nhật năm 1905-1907.
Sự mở rộng ảnh hưởng cia Nhật ở Viễn Đông đã làm cho quan hệ Nhật-Mỹ xấu đi.Việc Nhật chiếm Man Châu Ly đã cản trở sự banh trướng của Mỹ vào Trung Quốc. Thân thiện Nga-Nhật đã dẫn đến sự thay đổi trong chính sách Viễn Đông của Mỹ. Ngày 30/11/1908, chính phủ hai nước đã trao đổi công hàm đồng ý giữ nguyên thực lực ở Đông Nam A và Thái Binh Dương, tôn trọng quyền lợi lẫn nhau, “bảo vệ” nén độc lập của Trung Quốc và xác nhận nguyên tắc “md cửa” ở Trung Quốc do Mỹ đề ra năm 1900. Tuy vậy, mâu thuẫn trong quan hệ Nhật-Mỹ vẫn con nhiều căng thăng.
Nhật đã từ chỗi đề án của Mỹ vẻ “quốc tế hóa" đường sắt ở Man Châu. Quan hệ Nhật-Mỹ càng xấu đi khi tại Mỹ phong trào tây chay người Nhật diễn ra nhiều nơi. Mau thuẫn này đến nam 1914 vẫn chưa được giải quyết. Như vậy, trước Chiến tranh thế giới thứ | mới chỉ là khởi đầu trong quan hệ hai nước.
mốc 1854 là sự "mở cửa” mà lợi thế nghiêng về phía Mỹ. Quan hệ Nhật-Mỹ từ chiến tranh thé giới 1 đến chiến tranh thế giới II. Năm 1914, chiến tranh thé giới thứ | bùng nẻ, Nhật đứng về phe Hiệp ước Anh -Pháp-Nga (Mỹ) dé chống lại phe liên minh Đức-Áo-Hung. Với bước đi khôn khéo nảy, Nhật đã loại bỏ được sự ảnh hưởng của Đức ở một thuộc địa tại khu vực CA-TBD, đồng thời cũng nhằm tranh giảnh quyền lợi của Anh, Mỹ ở Trung Quốc.
13 Tháng 1/1915, chính phủ Nhật đưa ra “21 yêu cầu” đã giáng một đòn nặng nề vào vị trí các đồng minh lẫn địch thủ của Nhật ở Trung Quốc, trong đó có cả Mỹ. Quan hệ Nhật-Mỹ vẫn tiếp tục căng thang cho đến khi chiến tranh kết thúc cho dil cả hai cùng đứng chung một trận tuyến. Chiến tranh thế giới thứ I “như một cơ hội trời cho” đối với Nhật Bản. Nhật được tham gia vào hai hội nghị quốc tế quan trọng ở Paris (Versailles) (1919-1920) và Washington (1921-1922) để bàn bạc và tổ chức lại thế giới sau chiến tranh.
Là thành viên thường trực của Hội Quốc Liên, Nhật đã trở thành cường quốc được tham dự vào các quyết định để dựng lên trật tự thế giới đầu tiên của thế ki XX: Trật tự Versailles- Washington. Tuy nhiên, sự hình thành trật tự Versailles- Washington đã ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ Nhật-Mỹ sau chiến tranh. Tham vọng banh trướng ở Viễn Đông- Thái Bình Dương của Nhật bị chặn đứng bởi bàn tay của Mỹ. Việc Mỹtriệu tập hội nghị Washington (1921-1922) buộc các nước kí Hiệp ước 4 nước (Mỹ-Anh-Nhật- Pháp), Hiệp ước 9 nước (Mỹ-Anh-Nhật-Pháp-Ý-Bi-Hà Lan-Bồ Đào Nha-Trung Quốc) và Hiệp ước 5 nước (M$-Anh-Pháp-Nhật-Ý) hau như chia mũi nhọn vẻ Nhật là chủ yếu.
Mỹ nắm được thị trường Viễn Đông và Trung Quốc, nâng cao địa vị hải quân của mình lên hàng đầu thế giới trước sự lùi bước tạm thời của Nhật` Mau thuần Nhật-Mỹ lại có dịp gia tăng. Quan hệ quốc tế vào thời điểm năm trước chiến tranh (1938-1939) càng phức tạp va căng thẳng. Bên cạnh những mâu thuần như Anh-Đức, Pháp-Đức, Pháp-Ý, Mỹ-Đức ở châu Âu, Trung Cận Đông, Châu Phi, Mỹ La Tinh; ở Viễn Đông, ngoài mâu thuần Nhật-Anh, Nhật-Pháp thi mâu thuần Nhật-Mỹ cũng không kém phan gay gắt. Chính phủ Hoa Kì đã gởi cho Nhật một công hàm vào ngày 31/12/1938, yêu cầu Nhật phải bảo vệ “tất cả quyền và quyền lợi của Hoa Kỳ và công dân Mỹ ở Trung Quốc"! Lợi dụng chính sách Munich ở phương Đông của Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản không ngừng lắn tới.
Ngày 27/7/1939, chính phủ Mỹ đã tuyên bế hủy bỏ hiệp ước * Nguyễn Lam Kiểu, Nguyễn Anh Thái, Nguyễn Xuân Kỳ (1978), Lịch sử thé giới hiện đại (1917-1990), Quyền 1, tập 1, NXBGD, Hà Nội, tr.171 * Lê Van Quang (2001), Lich sử quan hệ quốc tế tử 1947-1945. NXB GD, Ha Nội.140 l4 thương mại Nhật-Mỹ được ký kết từ năm 191 |. Mau thuần Nhật-Mỹ ngày càng trở nên căng thăng hơn. chiến tranh thé giới thứ II bing nd, quan hệ Nhật-Mỹ bị cuỗn vao vòng xoáy chiến tranh.
Dù M9 không ngừng phan đối kế hoạch thành lập "Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á” của Nhật, Nhật vẫn từng bước mở rộng phạm vi chiếm đóng. Việc Nhat lan chiếm Đông Dương từ 1940 da de dọa trực tiếp đến con đường vận chuyển vũ khi của Mỹ cho Tưởng Giới Thạch. Tổng thông Roosevelt đã tuyên bố cắm vận xuất khẩu dau lửa sang Nhật, Nhật thông qua con đường đảm phản với Mỹ và đưa ra đề nghị: Nhật sẽ rút khỏi Nam Đông Dương, thay vào đó là Mỹ tiếp tục xuất cảng dau lửa cho Nhật vả không viện trợ cho Trung Quốc. Tuy nhiên, việc chấm dứt ủng hộ cho Tưởng Giới Thạch là điều Mỹ không thể thực hiện được.
Vì thể mà quan hệ Nhật-Mỹ tiếp tục căng thẳng. Ngày 26/7/1941, Roosevelt đã dua ra bản mệnh lệnh nỗi tiếng là tịch thu tất cả các tài sản của Nhật trên dat Mỹ. “Day là sự kiện chủ yếu trong mdi quan hệ Nhật-Mỹ vào thời kì trước sự kiện Trân Châu Cảng. Bản mệnh lệnh nổi tiếng này đã làm chan động những người lãnh đạo nước Nhật.
song không thé day họ ra khỏi con đường đi tới cuộc xung đột với Mỹ. Ngày 7/12/1941, quân đội Nhat đã tan công và tiêu diét ham đội Mỹ ở Trân Châu cảng. Đây là sự kiện chưa từng có trong lịch sử hải quân Mỹ. Sự kiện Trân Châu Cảng được coi là đỉnh điểm trong mâu thuần quan hệ Nhật-M$ trước 1945.
Nhật, Mỹ tuyên bố chiến tranh. Qua 6 tháng chiến tranh ở Thái Bình Dương, Nhật đã từng bước đánh bại quân đội Mỹ và các đồng minh của Mỹ làm chủ một vùng đất rộng lớn hơn 4 triệu km2, thế lực của Nhật bao trùm lên một nửa Thái Bình Dương và một phần Án Độ Dương. đánh dấu thời kỷ đỉnh cao của dé quốc "mặt trời mọc”. Tuy nhiên, sau chiến thắng Midway (hè 1942), Mỹ chuyển sang phản công và Nhật liên tiếp that bại ở Salomon, Saipan rồi Okinawa- cửa ngõ đi vào Nhật rơi vào tay Mỹ.
Trên đà thắng lợi. thang 2/1945 Hội nghị tam cường Xô-Mỹ-Anh tai Yalta đã di đến quyết định tiêu điệt tận gốc chủ nghĩa phát xit Đức vả chủ nghĩa quân phiệt Nhat Bản đẻ ket thúc chiến tranh ở Châu Au va CA-TBD, thành lập Tổ chức 1S Liên Hiệp Quốc (LHQ) nhằm duy tri hòa binh va an ninh thé giới. van để quan trong hang dau là phân chia lại thẻ giới sau chiến tranh. Thực hiện cam kết của minh tại Yalta, ngảy 8/8/1945, Liên Xô đã tuyển chiến với Nhật Bản.
Trong khi sự that bại của Nhật đã rd rang. với ý đồ thứ nghiệm loại vũ khí mới. phd trương sức mạnh quân sự nhằm mục đích ran de của minh, ngày 6 va 9/8/1945, Mỹ đã ném hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima va Nagasaki, giết hang trăm nghìn người vỏ tội. Ngày 10/8/1945, chính phủ Nhật gởi cho Anh, Mỹ và Liên Xô ban dé nghị chấp nhận đầu hàng theo tuyên cáo Postdam.
Ngày 14/8/1945, Nhật Hoang Hirohito tuyển bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện.