mở đầu cho thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Năm 1946, Tông thông Truman đã viết thư cho Ngoại trưởng James Byrnes về việc ông đã đưa ra đường lối quá mềm mỏng đối với Moscow, Truman viết: “Trix khi Nga phải đối mặt với nim dam sắt và ngôn ngữ mạnh mẽ, một cuộc chiến khác sẽ xảy ra. Tôi mệt mỏi vì phải chiều chuộng Liên Xô rồi” (Gasiorowski & Byrne, 2004, p. Đáp trả về phía Hoa Kỳ, Stalin đã có một bài phát biểu tỏ rõ sự chấm dứt cho môi quan hệ đồng minh thời chiến, tái khang định chủ nghĩa Mác Lénin, chi trích phương Tây và lời kêu gọi nhân đân Liên Xô sẵn sàng cho một cuộc chiến trong tương lai (Gasiorowski & Byrne, 2004, p.
Thâm phán Tòa án Tối cao William O. Douglas đã gọi đó là "Lời tuyên bố về Thế chiến 3” (Gasiorowski & Byrne, 2004, p. Đầu tháng 3/1946, cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill đã có bài phát biểu nổi tiếng *Bức man sat” ở Fulton, Missouri với những lời lên án chính sách của Liên Xô: “Tir Stettin ở Baltic tới Trieste ở Adriatic, một bức màn sắt đã buông xuống trên khắp lục địa” (Nguyễn Thị Kim Phụng. Cựu Thủ tướng đã không ngừng ca ngợi nước Mỹ đang đứng “ở đỉnh cao của quyền lực thé giới” trước sự chứng kiến của Truman và bắt đầu lên an, cánh báo về chính sách bành trướng của Liên Xô.
Ngoài “bức man sắt` đã buông xuống Đông Âu, ông còn nói về “dao quân thứ năm của cộng san” đang hoạt động trên khắp Tây Âu và Nam Âu (Nguyễn Thị Kim Phụng, 2018). Như vay, sự phát triên của Liên Xô cùng một hệ thống đối lập với phương Tây đã khiến cho Hoa Kỳ bắt dau lo ngại mỗi đe dọa tiềm tang này. Do đó, di đã thiết lập quan hệ đồng minh trong Thế chiến II nhưng sau chiến tranh, hai siêu cường này nhận thức được vai trò lãnh đạo, hệ thống mà minh đang đại diện không thé cùng tôn tại. Hoa Kỳ đã bắt đầu những động thái từ lời nói cho đến những hành động cứng rắn chống Liên Xô thông qua thông điệp của Tông thông Truman đánh dấu thời kỳ chạy đua quyết liệt nhất giữa hai siêu cường.
Cùng với lời nói, Liên Xô đang có những hành động nhằm thay đôi cán cân quyền lực về phía mình như việc can thiệp, mở rộng quyền anh hưởng, kiểm soát đến Azerbaijan (phía Bắc Iran). Ngày 12/12/1945, Liên Xô đã hậu thuẫn, thành lập nước 15 Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan; đến ngày phải rút quân khỏi miền Bắc Iran (theo thỏa thuận với Shah Iran), lực lượng Hong quân Liên Xô gây nhiều trở ngại cho chính quyền Tehran thiết lập va gỡ bỏ các chính phủ tự trị. do Liên Xô hỗ trợ. Iran, dưới sự khuyến khích của Washington, đã đưa vấn đề này lên Liên Hợp Quốc (vừa mới thành lập vào 10/1945) nhằm giải quyết.
Thủ tướng Iran lúc đó là Ahmad Qavam đã tới Moscow dé thỏa thuận về van dé dau mỏ, đến tháng 5/1946, Stalin mới hoàn tất VIỆC rút quân khỏi Azerbaijan (Gasiorowski & Byrne, 2004, p. Mặc dù đã rút quan theo thỏa thuận, Liên Xô vẫn duy trì sự ảnh hưởng, kiêm soát tại Iran. Sự can thiệp của Liên Xô vào Iran là một trong những hành động đáp trả đầu tiên vẻ phía Nhà Trắng. Chưa dừng lại ở Iran, Liên Xô tiếp tục lôi kéo, giành quyền kiểm soát ở Tho Nhĩ Kỳ và Hy Lạp.
Vào tháng 8/1946, Liên Xô yêu cầu Thé Nhĩ Kỳ cấp quyền quân sự dé vào eo biển Dardanelles. Trước dé xuất của Điện Kremli về việc bảo vệ eo biên với Thé Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ hiểu rõ đây là một động thái nhằm phục vụ cho mục đích của Liên Xô: tiếp cận tới Địa Trung Hải thông qua Biên Đen hay như Truman viết sau này: “theo diễn biến tự nhiên của các sự kiện, kết quả là Hy Lạp và toàn bột vùng Cận và Trung Đông nằm dưới sự kiểm soát của Liên Xô” (Gasiorowski & Byrne, 2004, p. Ở Hy Lạp, cuộc nội chiến bùng nỗ vào cuối tháng 11/1946, mặc đù chưa nhận thấy được hình bóng của Liên Xô “nhúng tay” vào đất nước này nhưng các quan chức Hoa Kỳ đã sớm nhận thấy điều tương đồng đã diễn ra ở Azerbaijan (phía Bắc Iran). Họ sớm nhận thấy sự tồn tai của Đảng Cộng sản khuyến khích phong trào ly khai ở phía Bắc Hy Lạp.
Diéu nay khiến chính phủ Hoa Kỳ lo ngại không thẻ kiểm soát được sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản, sự ảnh hưởng của Liên Xô sang các nước xung quanh: đặc biệt là “Cac quốc gia mạn Bac”! đang thuộc phạm vi ảnh hưởng của Moscow (Lê Phung Hoàng, 2009, tr. Sự lo ngại của Washington đã sớm thúc day cho những hành động nhằm thu hẹp ảnh hưởng của Liên Xô đôi với “Cac quốc gia mạn Bắc”. Với trường hợp của Hy Lap va Tho Nhĩ Kỳ, Tông thống Truman đã yêu cầu Quốc hội Mỹ viện trợ khan cấp “Norther Tier States” gồm Hy Lap, Thỏ Nhi Kỷ va Irn 16 400 triệu USD cho hai nước nay thông qua học thuyết mang tên ông (Truman Doctine), điều này giúp cho hai nước này không “nga” về phía Liên Xô. Học thuyết Truman ra đời ngày 12/3/1947 đã đánh dau sự khởi phát của Chiến tranh Lạnh, thé hiện quan điểm cứng rắn của vị Tong thong trước xu thế có quá nhiều quốc gia chưa biết “nga” theo Hoa Kỳ hay Liên Xô.
Còn với Iran, Hoa Kỳ cũng khang định vị thé của mình với các khoản dau tu: Ngày 20/6/1947, Mỹ kí với Iran một hiệp định về việc Mỹ sẽ cung cap viện trợ quân sự cho nước nảy. Trong thời gian sau đó, Mỹ còn cung cấp thêm các khoán viện trợ kinh tế. Ngày 22/10/1947, Quốc hội Iran thông qua “Dao luật phục hồi quyên của nhân dân Iran doi với các tai nguyên tự nhiên của mình". Chiếu theo văn kiện pháp lí này, Quốc hội đã biểu quyết bác bỏ bản Hiệp định ma Liên Xô vả Iran kí ngày 4/4/1946, trong lúc vẫn dé nguyên hợp đồng nhượng quyền khai thác dau lửa đã kí với Anh hôi thập niên 1930.
Dù quan hệ giữa Liên Xô va Iran vi thé mà trở nên căng thăng, Chính phủ Moskva không tìm cách can thiệp. (Lê Phụng Hoàng, 2009, tr.S1) Đầu năm 1950, quan hệ giữa Iran và Anh ngày càng xấu đi khi công ty dau Anh-Iran (AIOC) không dem lại sự thỏa thuận có lợi cho phía Iran; điều này khiến Thủ tướng Mohammad Mosaddegh giữ vững quyết định quốc hữu hóa đầu mỏ. Trước những diễn biến chung của cuộc tranh chấp Anh-Iran, chính quyền Truman nhận thay sự hiện điện của Hoa Kỳ là cần thiết bởi: các công ty đầu mỏ của Hoa Kỳ cũng chịu sự ảnh hưởng trong cuộc tranh chap ở Trung Đông, xung đột giữa Anh và Iran không có lợi cho phương Tây mà chỉ có lợi cho sự tồn tại của Liên Xô? và cuối cùng, bồi cảnh đó sẽ tạo điều kiện cho Đăng Cộng sản (Tudch) lên nim quyén ở Teheran (Lê Phụng Hoàng, 2009, tr. Chính quyền Truman đã can thiệp vào tranh chấp Anh- Iran, ban đầu, sự thu xếp đến từ Washington chưa đem lại sự ồn thỏa đặc biệt vào cuối năm 1951-dau năm 1952, sự ủng hộ của nhân dan Iran giành cho Mohammad Mosaddegh vẫn quá lớn xoay quanh van dé quốc hữu hóa đầu mỏ.
Thời điểm đó, Mohammad Mosaddegh đủ tin tin tuyên bo: “Tha độc lap va san xuất chi mỗi một tan dầu một năm, hơn là sản xuất 32 triệu tan, nhưng vẫn là nô lệ của Anh” (Lê Phụng * Liên Xô có thé viện vào Hiện ude đề ki năm 1921 với Iran dé đứa quần vào mite Bắc nước này. Mãi đến cuỗi năm 1952, Hoa Kỳ phải đưa ra một sự ôn thỏa chắc chắn trong điều kiện Mohammad Mosaddegh cắt đứt quan hệ với Anh, tiền tới trao đôi thương mại với Liên Xô tăng đến 60% (Lê Phụng Hoàng, 2009, tr. Hoa Kỳ đã tính toán đưa ra một phương án mua chuộc Mohammad Mosaddegh, giúp giảm bớt căng thăng Anh-Iran và thái độ không thân với Liên Xô nhưng những thỏa thuận ngay sau đó vẫn không được phía Anh, Iran thực hiện. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anh- Anthony Eden đã cho rang “chúng ta nên dé tâm nhiều hơn đến việc tìm kiếm những phương phán thay thế Mosaddeq.
hơn là lo mua chuộc ông ta” (Lê Phụng Hoàng, 2009, tr. Mọi nỗ lực giải quyết cuối cùng của chính phủ Truman chưa mang đến kết cục cho van dé Anh-Iran, điều nảy chỉ có thé được vị Tông thông kế nhiệm Dwight D. Eisenhower thực hiện bằng một cuộc đảo chính chính quyền Mosaddeq. Như vậy, kê từ khi Chiến tranh Lạnh được phát động, thé giới đã bao trùm sự phan cực rõ ràng giữa Hoa Ky và Liên Xô, giữa Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa.
Hai siêu cường này không đối đầu qua các cuộc chiến tranh trực tiếp, thay vào đó là các cuộc chiến tranh “ty nhiệm” hoặc tranh gianh quyền ảnh hưởng lên các khu vực của thế giới. Trung Đông, với sự ton tại của Iran, là một trong những điểm mà hai siêu cường hướng đến bởi tam quan trọng chiến lược của quốc gia nay, boi nguồn dầu mỏ khủng 16, bởi những lợi ích quốc gia dân tộc mà hai bên tìm kiếm sự kiểm soát, Cuộc khủng hoáng ở Azerbaijan (1945-1946) đã minh chứng rd về sự can thiệp của Liên Xô vào vùng đất quan trong nay cùng những mong muốn kiêm soát giữa hai siêu cường, nhất 1a trong bối cảnh Chiến trạnh Lạnh ngảy càng gia tăng. Với Liên Xô. “ngoài việc sở hữu trữ lượng dau mỏ, Iran con là vùng đệm quan trong giữa Liên Xô với Vịnh Ba Tư, tiêu lục địa Án Độ” (Gasiorowski & Byrne, 2004, p.
Các quan chức Mỹ tin rằng Liên Xô đã mong muốn có được một bến cảng, đặt các mỏ dầu còn lớn hơn trên bán đảo Saudi, xa hơn hết là đe doa đến các lợi ích quân sự và thương mai của Anh, Hoa Ky; với tham vọng to lớn đó, cả Washington va London đều sẽ sẵn sàng làm cho điều đó không thê xảy ra (Gasiorowski & Byrne, 2004, p. Tuy nhiên, từ năm 1950, nhận thấy được trừ lượng dầu mỏ không 16 ở Baku cùng việc muôn cải thiện quan hệ với Washington, Liên Xô không còn can thiệp sâu vào 18 Iran. Điều nay, tao cơ hội cho Hoa Kỳ tiễn sát tới chính phủ Iran; đồng thoi, Hoa Kỳ từ chỗ không có quyên lợi đáng kẻ ở Iran, nay ngang hàng trong các hoạt động buôn ban dau mỏ, được xem là độc quyền đối với Anh từ lâu. Ngoài vị thé trong các hoạt động buôn bán, Hoa Kỳ cũng tác động sự ảnh hưởng của mình đối với cả Trung Đông, với trọng tâm là Iran; và đó là cách mà Hoa Kỳ đối dau với Liên Xô tại Trung Đông trong thời kỳ đầu của Chiến tranh Lạnh.