Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh xã hội phát triển và nhịp sống hiện đại, thói quen tiêu dùng thực phẩm chế biến sẵn gia tăng nhanh chóng, kéo theo nhiều hệ lụy sức khỏe tiềm ẩn do mất cân bằng dinh dưỡng. Cholesterol là một thành phần lipid thiết yếu trong cấu trúc tế bào động vật và chuyển hóa sinh học, tuy nhiên việc hấp thu dư thừa cholesterol từ khẩu phần ăn ngoại sinh là yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến các bệnh lý tim mạch do xơ vữa động mạch, sỏi mật cholesterol và một số rối loạn chuyển hóa khác. Mặc dù các tổ chức y tế quốc tế và trong nước như Hội Tim mạch học Hoa Kỳ (ACC/AHA), Hiệp hội Lipid Quốc gia Hoa Kỳ (NLA) hay Hội Tim mạch học Việt Nam đã ban hành các khuyến cáo kiểm soát mức tiêu thụ cholesterol hàng ngày (thường dưới 200–300 mg/ngày), các quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc về giới hạn cholesterol trong từng loại thực phẩm thương mại hiện vẫn chưa được thiết lập đồng bộ.

Để phục vụ công tác kiểm soát an toàn thực phẩm và hỗ trợ người tiêu dùng lựa chọn chế độ dinh dưỡng hợp lý, các phương pháp phân tích định lượng cholesterol chính xác là yêu cầu cấp thiết. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 12385:2018 hiện đang áp dụng phương pháp sắc ký khí với đầu dò ion hóa ngọn lửa (GC-FID). Tuy nhiên, quy trình xử lý mẫu của TCVN 12385:2018 tương đối phức tạp; việc sử dụng dung môi toluen trong giai đoạn chiết xuất thường gây hiện tượng tạo nhũ tương bền vững, rất khó tách pha và làm sạch dịch chiết, làm kéo dài thời gian kiểm nghiệm.

Từ thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ với đề tài "Xác định cholesterol trong thực phẩm, thực phẩm chức năng bằng sắc ký khí khối phổ (GC-MS)" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng quy trình xử lý mẫu và thẩm định quy trình xử lý mẫu đã xây dựng cùng quy trình định lượng cholesterol trong thực phẩm và thực phẩm chức năng bằng phương pháp GC-MS.
  2. Ứng dụng phương pháp đã xây dựng để xác định hàm lượng cholesterol trong các mẫu thực phẩm, thực phẩm chức năng lưu thông trên thị trường.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm các mẫu thực phẩm và thực phẩm chức năng, trọng tâm là các dạng mẫu sữa (sữa tươi tiệt trùng, sữa chua uống, sữa bột dinh dưỡng, sữa dinh dưỡng y học) và các loại sữa có nguồn gốc từ thực vật (sữa đậu nành, sữa gạo rang, sữa hạt óc chó). Nghiên cứu được thực hiện tại Bộ môn Hóa phân tích – Độc chất (Trường Đại học Dược Hà Nội) và Khoa Độc học Dị nguyên thuộc Viện Kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia vào năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên cơ sở hóa học phân tích của hợp chất cholesterol ($C_{27}H_{46}O$, phân tử lượng 386,7 g/mol) – một sterol tự nhiên chứa một liên kết đôi $C_5-C_6$, một nhóm thế $3\beta$-hydroxyl và chuỗi nhánh aliphatic 8 carbon. Để phân tích cholesterol trên hệ thống sắc ký khí, nhóm hydroxyl phân cực cần được chuyển hóa thành dẫn xuất trimethylsilyl (TMS) ete nhằm tăng độ bay hơi, tăng độ bền nhiệt và cải thiện hình dạng pic sắc ký. Chuẩn nội được lựa chọn là $5\alpha$-cholestane ($C_{27}H_{48}$, phân tử lượng 323,132 g/mol), một hydrocacbon steroid có cấu trúc tương đồng nhưng không chứa nhóm chức hydroxyl, giúp hiệu chỉnh sai số thể tích và độ thu hồi trong suốt quá trình xử lý mẫu và đo đạc sắc ký.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm hai giai đoạn chính: tối ưu hóa điều kiện xử lý mẫu và thẩm định phương pháp phân tích.

  • Hệ thống thiết bị và điều kiện phân tích:
    • Hệ thống GC-MS ISQ 7000 (Thermo Scientific) tích hợp máy sắc ký khí Trace 1310, đầu dò khối phổ một tứ cực ISQ 7000 nguồn ion hóa va chạm điện tử (EI, năng lượng 70 eV), bộ tiêm mẫu tự động CombiPAL CTC Analytics AG.
    • Cột sắc ký: Cột mao quản TraceGOLD TG-5MS ($30\text{ m} \times 0,25\text{ mm} \times 0,25\ \mu\text{m}$). Khí mang heli với lưu lượng 1 mL/phút.
    • Chương trình nhiệt độ lò cột: Giữ 50°C trong 1 phút; tăng nhiệt 50°C/phút lên 100°C, giữ 2 phút; tăng nhiệt 50°C/phút lên 270°C, giữ 20 phút; tăng nhiệt 50°C/phút lên 300°C, giữ 2 phút. Cổng tiêm duy trì ở 250°C. Nhiệt độ đường chuyển (transfer line) là 280°C và nhiệt độ nguồn ion là 250°C.
  • Quy trình thẩm định: Thực hiện theo các hướng dẫn quốc tế của AOAC (2023), ICH (2005), tài liệu chuyên khảo về thẩm định phương pháp phân tích và Quy định (EU) 2021/808 của Ủy ban Châu Âu về tính điểm nhận dạng (Identification Points - IP) cho phép đo khối phổ. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm: độ đặc hiệu (tính chọn lọc), độ phù hợp hệ thống, giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ), khoảng tuyến tính và đường chuẩn, độ đúng (độ thu hồi), độ lặp lại và độ chụm trung gian.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thực nghiệm thu thập trực tiếp từ các phép đo trên hệ thống GC-MS tại Viện Kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia đối với các mẫu chuẩn pha trong dung môi, mẫu thêm chuẩn trên nền mẫu trắng và 10 mẫu sản phẩm thương mại thu thập trên thị trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này trình bày tổng quan lý thuyết về cấu trúc, tính chất lý hóa, vai trò sinh lý và cơ chế bệnh sinh của cholesterol đối với cơ thể người. Bên cạnh đó, tác giả tổng hợp các quy định dinh dưỡng hiện hành và phân tích ưu nhược điểm của các kỹ thuật phân tích cholesterol phổ biến (HPLC-UV/MS, GC-FID, GC-MS).

Chương 1 cũng tổng thuật 5 công trình nghiên cứu điển hình trong và ngoài nước về phương pháp xử lý mẫu và định lượng cholesterol. Qua so sánh, tác giả chỉ ra rằng các quy trình sử dụng phản ứng xà phòng hóa trực tiếp kết hợp chiết lỏng-lỏng và dẫn xuất hóa silyl mang lại hiệu quả phân tích vượt trội. Tuy nhiên, quy trình tiêu chuẩn TCVN 12385:2018 dùng toluen gặp trở ngại lớn về hiện tượng tạo nhũ tương, trong khi một số phương pháp quốc tế khác lược bỏ bước làm sạch khiến dịch tiêm chứa nhiều tạp chất nền, làm giảm tuổi thọ của cột sắc ký và độ nhạy khối phổ.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết danh mục trang thiết bị, dụng cụ, hóa chất tinh khiết phân tích (cholesterol chuẩn 99%, $5\alpha$-cholestane chuẩn 99%, n-hexan GC-MS, DMF, HMDS, TMCS, BSTFA, KOH, $Na_2SO_4$). Chương này thiết kế quy trình khảo sát đơn biến cho 5 thông số kỹ thuật xử lý mẫu dự kiến:

  1. Nồng độ dung dịch KOH xà phòng hóa (5%, 10%, 20%, 30% kl/tt).
  2. Nhiệt độ phản ứng xà phòng hóa (20°C, 40°C, 60°C, 80°C, 100°C).
  3. Thời gian phản ứng xà phòng hóa (15, 30, 60, 120, 180 phút).
  4. Loại dung môi chiết lỏng-lỏng (n-hexan, toluen, ete dầu hỏa, hỗn hợp n-hexan : ete dầu hỏa tỉ lệ 1:1 tt/tt).
  5. Tác nhân dẫn xuất hóa (hỗn hợp HMDS:TMCS tỉ lệ 2:1 so với BSTFA:TMCS tỉ lệ 99:1).

Chương 2 cũng quy định công thức toán học và tiêu chuẩn chấp nhận cho từng chỉ tiêu thẩm định phương pháp theo AOAC và ICH, bao gồm tiêu chuẩn tính điểm nhận dạng ion ($IP \ge 4$), độ chệch nồng độ đường chuẩn ($\le 15%$, riêng LOQ $\le 20%$) và độ lệch chuẩn tương đối RSD của độ chụm.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được trong việc tối ưu hóa quy trình, kết quả thẩm định phương pháp và dữ liệu ứng dụng trên các mẫu thực tế.

1. Kết quả tối ưu quy trình xử lý mẫu

Thông số đánh giá hiệu suất của các điều kiện khảo sát là đại lượng $A = (S_{\text{CHO}} / S_{\text{5AC}}) \times (1 / m)$, trong đó $S_{\text{CHO}}$ và $S_{\text{5AC}}$ lần lượt là diện tích pic của cholesterol và chuẩn nội, $m$ là khối lượng mẫu cân.

Thông số khảo sát Dải điều kiện khảo sát Kết quả lựa chọn tối ưu Rationale kỹ thuật
Nồng độ KOH 5%, 10%, 20%, 30% (kl/tt) KOH 10% trong ethanol Tín hiệu đạt cực đại tại 10%. Ở 20% và 30%, độ nhớt dung dịch tăng cao cản trở chuyển khối và làm giảm tốc độ thủy phân.
Nhiệt độ thủy phân 20°C, 40°C, 60°C, 80°C, 100°C 80°C Tốc độ phản ứng tăng theo nhiệt độ đến 80°C. Ở 100°C, dung môi ethanol bị bay hơi mạnh làm tăng độ nhớt, suy giảm tín hiệu.
Thời gian thủy phân 15, 30, 60, 120, 180 phút Tối thiểu 60 phút Tín hiệu tăng nhanh từ 15 đến 60 phút và đạt trạng thái bão hòa ổn định sau 60 phút.
Dung môi chiết Toluen, n-hexan, ete dầu hỏa, n-hexan:ete dầu hỏa (1:1) n-hexan Cho hiệu suất chiết tương đương toluen nhưng hoàn toàn không gây hiện tượng tạo nhũ tương khó tách pha và để lại ít cắn sau cô quay.
Hỗn hợp dẫn xuất BSTFA:TMCS (99:1) và HMDS:TMCS (2:1) HMDS:TMCS (2:1) Cho cường độ tín hiệu sắc ký vượt trội so với hỗn hợp BSTFA:TMCS ở cùng thể tích phản ứng.

Quy trình xử lý mẫu tối ưu hoàn chỉnh: Cân chính xác mẫu (0,5–1 g đối với sữa bột; 2–10 g đối với sữa lỏng; 0,2–1 g đối với dầu mỡ) vào bình nón 250 mL. Thêm 50 mL KOH 10% trong ethanol và $100\ \mu\text{L}$ dung dịch chuẩn nội $5\alpha$-cholestane (100 ppm). Thủy phân ở 80°C trong tối thiểu 60 phút. Sau khi làm nguội, chuyển vào phễu chiết 500 mL, tráng bình bằng 10 mL ethanol 96% và 20 mL nước. Chiết với 150 mL n-hexan trên máy lắc dọc (30 phút). Loại bỏ lớp cồn nước, rửa pha hữu cơ bằng 100 mL dung dịch NaCl 20%. Lọc dịch n-hexan qua 10 g $Na_2SO_4$ khan, cô quay chân không ở 60°C đến cắn. Hòa tan cắn trong 10 mL DMF. Lấy 1 mL dịch DMF vào ống ly tâm 15 mL, thêm $200\ \mu\text{L}$ HMDS và $100\ \mu\text{L}$ TMCS, để yên 15 phút. Thêm tiếp 1 mL n-hexan và 5 mL nước cất, lắc đều, ly tâm 1 phút ở 6000 vòng/phút và thu lớp n-hexan phía trên đem tiêm GC-MS.

2. Kết quả thẩm định phương pháp phân tích

  • Độ đặc hiệu và nhận dạng ion: Mẫu trắng không xuất hiện pic cản trở tại thời gian lưu của chất phân tích và chuẩn nội (tín hiệu tạp $< 2%$). Thời gian lưu trùng khớp ($t_R$ của cholesterol là 16,47 phút; của $5\alpha$-cholestane là 12,46 phút). Phương pháp đạt 4 điểm nhận dạng IP theo quy định của Ủy ban Châu Âu. Tỉ lệ ion định lượng và định tính của mẫu thêm chuẩn có độ lệch $R_{\text{diff}}$ nằm trong giới hạn cho phép $\pm 15%$ ($R_{\text{diff}}$ của cholesterol là 0,75%; của $5\alpha$-cholestane là 4,40%).
Chất phân tích Ion mẹ ($m/z$) Ion con định lượng ($m/z$) Ion con định tính ($m/z$) Điểm IP đạt được
Cholesterol-TMS 386,43 129,10 329,43 4,0
$5\alpha$-cholestane 372,67 217,27 149,21 4,0
  • Độ phù hợp hệ thống: Tiêm lặp lại 6 lần dung dịch chuẩn (cholesterol 5 ppm, chuẩn nội 1 ppm) cho kết quả RSD thời gian lưu là 0,05% (cholesterol) và 0,04% ($5\alpha$-cholestane); RSD diện tích pic lần lượt là 1,70% và 1,75% (đều đạt yêu cầu $< 2%$).
  • Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ): Dựa trên tỉ số tín hiệu trên nhiễu đường nền ($S/N = 12$ tại mức 5 ppm), xác định $\text{LOQ} = 5\text{ ppm}$ (tương đương $50\ \mu\text{g}$ cholesterol trong lượng mẫu cân) và $\text{LOD} = 1,5\text{ ppm}$.
  • Đường chuẩn và khoảng tuyến tính: Xây dựng trên khoảng nồng độ 5–100 ppm, phương trình hồi quy đạt hệ số tương quan $R^2 > 0,999$. Độ chệch nồng độ tính ngược của các điểm chuẩn dao động từ -7,90% đến 3,71% (đáp ứng tiêu chuẩn $\le 15%$).
  • Độ đúng và độ chụm: Thẩm định trên mẫu trắng thêm chuẩn tại 3 mức nồng độ (5, 10, 20 ppm) với 6 lần lặp lại mỗi mức. Mức 5 ppm được tiến hành trong 2 ngày riêng biệt để xác định độ chụm trung gian.
Mức nồng độ thêm chuẩn Độ thu hồi trung bình (%) Độ lặp lại RSD (%) Độ chụm trung gian RSD (%) Yêu cầu AOAC
5 ppm (Ngày 1) 94,3% 4,7% - Thu hồi 80–110%, RSD $< 7,3%$
5 ppm (Ngày 2) 103,9% 3,6% - Thu hồi 80–110%, RSD $< 7,3%$
5 ppm (Gộp 2 ngày) - - 6,4% RSD trung gian $< 11%$
10 ppm 99,5% 3,4% - Thu hồi 80–110%, RSD $< 7,3%$
20 ppm 96,8% 3,3% - Thu hồi 90–107%, RSD $< 5,3%$

3. Kết quả phân tích mẫu thực tế

Phân tích 10 mẫu thực phẩm thu mua ngẫu nhiên trên thị trường:

Ký hiệu Loại mẫu phân tích Khối lượng mẫu ($g$) Nồng độ trong dịch tiêm (ppm) Hàm lượng cholesterol trong mẫu ($\mu\text{g/g}$)
S1 Sữa đậu nành 10,0306 $<$ LOQ $<$ LOQ
S2 Sữa gạo rang 10,0108 $<$ LOD $<$ LOD
S3 Sữa hạt óc chó 10,0223 $<$ LOD $<$ LOD
S4 Sữa tươi tiệt trùng 2,5014 39,8 159,1
S5 Sữa cho người tiểu đường (dinh dưỡng y học) 10,0083 11,3 11,3
S6 Sữa chua uống vị cam 10,0109 47,0 47,0
S7 Sữa bột (bổ sung dinh dưỡng) 0,5147 38,0 738,3
S8 Sữa bột (bổ sung dinh dưỡng) 1,0040 35,5 353,5
S9 Sữa bột (bổ sung dinh dưỡng) 1,0030 35,7 355,4
S10 Sữa bột (bổ sung dinh dưỡng) 0,5025 37,1 738,4

Chương 4: Kết luận và đề xuất

Tác giả tổng kết toàn bộ các kết quả đạt được về việc tối ưu hóa quy trình xử lý mẫu, hoàn thiện bộ dữ liệu thẩm định phương pháp GC-MS và đánh giá hàm lượng cholesterol trên 10 mẫu thực phẩm thương mại. Đồng thời, tác giả đề xuất 4 định hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm hoàn thiện và mở rộng phương pháp.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã đạt được các kết quả định lượng cụ thể và đóng góp học thuật, thực tiễn rõ ràng:

  • Cải tiến quy trình xử lý mẫu: Thay thế dung môi toluen trong TCVN 12385:2018 bằng n-hexan kết hợp phản ứng xà phòng hóa trực tiếp (KOH 10% trong ethanol ở 80°C trong $\ge 60$ phút). Cải tiến này giải quyết triệt để sự cố tạo nhũ tương bền vững, giúp thao tác phân lớp nhanh chóng và giảm thiểu thất thoát chất phân tích.
  • Tối ưu hóa phản ứng dẫn xuất: Xác lập điều kiện dẫn xuất hóa tối ưu bằng hỗn hợp HMDS:TMCS (tỉ lệ 2:1 thể tích) trong môi trường DMF ở nhiệt độ phòng trong 15 phút, cho pic sắc ký cân đối, độ nhạy cao và độ phân giải tốt.
  • Dữ liệu thẩm định phương pháp đầy đủ: Phương pháp GC-MS sử dụng chuẩn nội $5\alpha$-cholestane đã được thẩm định toàn diện theo chuẩn mực AOAC, ICH và EU 2021/808. Phương pháp đạt độ tuyến tính cao ($R^2 > 0,999$), khoảng tuyến tính 5–100 ppm, độ thu hồi 94,3%–103,9%, độ lặp lại RSD 3,3%–4,7%, độ chụm trung gian RSD 6,4%, giới hạn định lượng $\text{LOQ} = 5\text{ ppm}$ và $\text{LOD} = 1,5\text{ ppm}$.
  • Cung cấp dữ liệu thực nghiệm về hàm lượng cholesterol trong thực phẩm: Kết quả phân tích mẫu thực tế khẳng định các loại sữa hạt thực vật (sữa đậu nành, gạo rang, óc chó) không chứa hoặc chứa cholesterol dưới ngưỡng phát hiện ($<$ LOD hoặc $<$ LOQ). Ngược lại, các sản phẩm có nguồn gốc từ sữa bò chứa hàm lượng cholesterol đáng kể: sữa tươi tiệt trùng đạt $159,1\ \mu\text{g/g}$, sữa chua uống đạt $47,0\ \mu\text{g/g}$, sữa cho người tiểu đường đạt $11,3\ \mu\text{g/g}$ và các loại sữa bột dinh dưỡng chứa hàm lượng rất cao từ $353,5$ đến $738,4\ \mu\text{g/g}$ (tương đương khoảng $60\ \mu\text{g/mL}$ khi pha chuẩn thành sữa nước).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo trình bày của tác giả trong khóa luận, nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế kỹ thuật:

  • Thời gian xử lý mẫu tổng thể còn tương đối dài do phải trải qua nhiều công đoạn tuần tự: xà phòng hóa gia nhiệt (60 phút), lắc chiết lỏng-lỏng (30 phút), lọc qua muối hút ẩm, cô quay bay hơi dung môi và phản ứng dẫn xuất hóa.
  • Giới hạn định lượng của phương pháp ($\text{LOQ} = 5\text{ ppm}$, tương đương $50\ \mu\text{g}$ trong khối lượng mẫu cân) còn tương đối cao, gây khó khăn cho việc định lượng chính xác các mẫu thực phẩm có hàm lượng cholesterol ở mức vết.

Các hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất bao gồm:

  1. Nghiên cứu cải tiến quy trình xử lý mẫu theo hướng tinh gọn: giảm thể tích dung môi hữu cơ sử dụng và rút ngắn thời gian chiết xuất/xà phòng hóa nhằm tiết kiệm chi phí và tăng năng suất phân tích.
  2. Khảo sát và thiết lập lại điều kiện sắc ký trong trường hợp thay thế $5\alpha$-cholestane bằng các chất chuẩn nội khác.
  3. Mở rộng phạm vi phân tích đồng thời của phương pháp đối với các hợp chất có cùng khung cấu trúc sterol tự nhiên như phytosterol (campesterol, stigmasterol, $\beta$-sitosterol) hoặc các hormone steroid trong nền thực phẩm và thực phẩm chức năng.
  4. Tối ưu hóa điều kiện sắc ký và cấu hình đầu dò khối phổ để hạ thấp giới hạn LOQ, nâng cao độ nhạy cho các nền mẫu hàm lượng thấp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hóa phân tích, Kiểm nghiệm thuốc và Độc chất, Công nghệ thực phẩm và Dinh dưỡng học.
  • Kiểm nghiệm viên tại các phòng kiểm nghiệm an toàn thực phẩm, trung tâm kiểm nghiệm dược phẩm - mỹ phẩm cần xây dựng quy trình phân tích lipid/sterol bằng phương pháp GC-MS.
  • Các phần đáng tham khảo nhất bao gồm: các bảng thông số tối ưu hóa xà phòng hóa/chiết xuất bằng n-hexan thay thế toluen (tránh tạo nhũ tương); quy trình chi tiết phản ứng dẫn xuất hóa silyl bằng HMDS:TMCS (2:1); phương pháp luận thẩm định phân tích và hệ thống tính điểm nhận dạng IP theo tiêu chuẩn châu Âu.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao nghiên cứu lựa chọn dung môi n-hexan để thay thế toluen như trong TCVN 12385:2018?
Trong quy trình TCVN 12385:2018, dung môi toluen khi lắc với dịch thủy phân rất dễ tạo nhũ tương bền, khó tách lớp, đòi hỏi lượng lớn cồn để phá nhũ và để lại nhiều cắn không tan sau khi cô quay. Dung môi n-hexan cho hiệu suất chiết tương đương toluen nhưng phân lớp nhanh chóng, không tạo nhũ tương kéo dài và làm sạch cắn dễ dàng hơn.

2. Hỗn hợp tác nhân dẫn xuất nào được lựa chọn và điều kiện thực hiện là gì?
Nghiên cứu khảo sát hai hệ dẫn xuất và lựa chọn hỗn hợp HMDS:TMCS (tỉ lệ thể tích 2:1) thay vì BSTFA:TMCS (99:1) do cho cường độ tín hiệu pic sắc ký cao hơn rõ rệt. Phản ứng được thực hiện trong dung môi DMF ở nhiệt độ phòng với thời gian ủ 15 phút trước khi chiết lại bằng n-hexan và nước.

3. Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) của phương pháp đạt mức nào?
Dựa trên tỉ số tín hiệu trên nhiễu đường nền ($S/N = 12$), phương pháp xác định được $\text{LOQ} = 5\text{ ppm}$ (tương đương $50\ \mu\text{g}$ cholesterol trên lượng mẫu cân) và $\text{LOD} = 1,5\text{ ppm}$ (tính theo công thức $\text{LOD} = \text{LOQ} / 3,3$).

4. Chuẩn nội $5\alpha$-cholestane đóng vai trò gì trong phương pháp GC-MS này?
$5\alpha$-cholestane được thêm trực tiếp vào mẫu ngay từ đầu quy trình xử lý. Do có cấu trúc khung steroid tương đồng với cholesterol nhưng không chứa nhóm hydroxyl phân cực, chuẩn nội giúp chuẩn hóa các biến thiên thể tích, bù trừ hao hụt chất phân tích qua các bước chiết/cô quay và loại trừ độ trôi tín hiệu của đầu dò khối phổ, cho phép xây dựng đường chuẩn trực tiếp trong dung môi.

5. Hàm lượng cholesterol giữa các nhóm mẫu sữa trên thị trường khác nhau như thế nào?
Các mẫu sữa hạt thực vật (đậu nành, gạo rang, óc chó) hoàn toàn không chứa cholesterol hoặc ở dưới ngưỡng phát hiện. Ngược lại, các sản phẩm từ sữa động vật chứa cholesterol ở mức đáng kể: sữa chua uống đạt $47,0\ \mu\text{g/g}$, sữa tươi tiệt trùng đạt $159,1\ \mu\text{g/g}$, và các mẫu sữa bột dinh dưỡng chứa từ $353,5$ đến $738,4\ \mu\text{g/g}$.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ của tác giả Nguyễn Song Toàn đã xây dựng thành công quy trình xác định cholesterol trong thực phẩm và thực phẩm chức năng bằng sắc ký khí khối phổ (GC-MS) kết hợp chuẩn nội $5\alpha$-cholestane. Nghiên cứu đã tối ưu hóa hiệu quả các giai đoạn xà phòng hóa trực tiếp (KOH 10%, 80°C, 60 phút), chiết xuất lỏng-lỏng bằng n-hexan và dẫn xuất hóa bằng HMDS:TMCS (2:1), khắc phục triệt để nhược điểm tạo nhũ tương của quy trình TCVN 12385:2018. Toàn bộ phương pháp đã được thẩm định đầy đủ theo tiêu chuẩn AOAC và ICH, đồng thời ứng dụng thành công trên 10 mẫu sữa thương phẩm, cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm tin cậy phục vụ công tác kiểm nghiệm và tư vấn dinh dưỡng.