ĐẶT VẤN ĐỀ Cà phê là một loại đồ uống màu đen có chứa chất caffeine, là một loại thức uống cao cấp, là đặc sản của miền nhiệt đới đã xuất hiện từ xa xưa. Cà phê được sử dụng rất nhiều ở dạng nguyên chất hoặc ở các hình thức phối trộn khác nhau như kẹo cà phê, cà phê sữa, rượu cà phê…. Hiện nay, cây cà phê được trồng ở gần 70 quốc gia trên thế giới, là một loại cây công nghiệp, phát triển nhiều ở những nước có khí hậu nhiệt đới, chiếm vị trí rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Caffeine là 1,3,7-trimethylxanthine có tác dụng gây nên sự hưng phấn và kéo dài thời gian tỉnh táo bằng cách ngăn cản tạm thời sự hoạt động bình thường của adenosine và enzyme phosphodiesterase.
Lượng tiêu thụ caffeine toàn cầu ước tính 120.000 tấn mỗi năm và caffeine trở thành chất có tác động đến trí tuệ phổ biến nhất trên thế giới. Điều này có nghĩa là đối với mỗi người, caffeine đã trở thành một phần thiết yếu trong thức uống hằng ngày. Caffeine là chất kích thích sự trao đổi chất và hệ thần kinh trung ương, được sử dụng với cả hai mục đích giải trí và chữa bệnh, làm giảm sự mệt mỏi thể chất và phục hồi sự minh mẩn của trí tuệ khi cơ thể trong tình trạng uể oải. Có rất nhiều phương pháp trích ly khác nhau được ứng dụng trong các lĩnh vực nghiên cứu cũng như sản xuất thực phẩm.
Tuy nhiên, nói đến các phương pháp trích ly hiện đại nhất và cho sản phẩm đạt chất lượng, hiệu suất thu hồi cao chính là phương pháp CO2 siêu tới hạn, phương pháp có hỗ trợ vi sóng….Phương pháp vi sóng được ứng dụng chủ yếu trong các lĩnh vực nghiên cứu. Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “ Nghiên cứu trích ly caffeine từ cà phê bằng phương pháp vi sóng” với mong muốn dùng các phương pháp hiện đại tách caffeine với hiệu suất thu hồi caffeine cao nhất và tạo ra sản phẩm bột caffeine đạt chất lượng, ứng dụng vào đời sống. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xây dựng quy trình công nghệ trích ly caffeine từ cà phê bằng phương pháp vi sóng nhằm tạo ra sản phẩm bột caffeine có chất lượng cao với hiệu suất thu hồi cao. ĐỒI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu là trích ly caffeine từ nguyên liệu cà phê nhân bằng phương pháp vi sóng.
Sản phẩm tạo thành có dạng bột màu trắng, có độ tinh khiết cao, vị đắng, không mùi. x do an NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Tổng quan về cây cà phê và phương pháp vi sóng - Xác định các thành phần hóa học của cà phê nguyên liệu - Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly caffeine - Tối ưu hóa điều kiện trích ly caffeine bằng phương pháp vi sóng - Xây dựng quy trình sản xuất bột caffeine - Đánh giá chất lượng sản phẩm. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC Xác định được thành phần hóa học của cà phê nhân Robusta với đường tổng là 36,2%, protein 9,94%, lipid 7,7%, độ ẩm 9,02%, khoáng 4,77% và caffeine là 2,1%. Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly caffeine: kích thước 1-2mm, độ ẩm 5- 7%, tỷ lệ nguyên liệu/dung môi là 1/8, thời gian vi sóng là 6 phút, công suất vi sóng là 600W.
Tối ưu hóa điều kiện trích ly caffeine cho hiệu suất thu hồi caffeine là 71,42% với thời gian vi sóng là 6,83 phút, công suất là 800W và tỷ lệ dung môi là 80ml và xây dựng được quy trình sản xuất bột caffeine tạo ra sản phẩm caffeine có độ tinh khiết cao. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Ý nghĩa khoa học Ở Việt Nam các nghiên cứu về caffeine còn ít và sử dụng phương pháp hiện đại như trích ly hỗ trợ vi sóng là rất ít. Vì thế mặc dù chúng tôi chỉ mới bước đầu khảo sát quy trình trích ly và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly caffeine nhưng những kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phần nào đóng góp thêm vào việc nghiên cứu trích ly caffeine, một chất kích thích thần kinh được ứng dụng rộng rãi trong đời sống. Ý nghĩa thực tiễn.
Đề tài gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo sau này nhằm hoàn thiện quy trình trích ly với các phương pháp khác hiện đại hơn, có thể đưa ra sản xuất ở quy mô công nghiệp. Hướng ứng dụng của đề tài: Trong ngành thực phẩm, thì việc bổ sung thêm thành phần có chứa caffeine để tăng thêm mùi vị của sản phẩm cũng là một cách tạo ra sản phẩm được người tiêu dùng yêu thích vì khả năng kích thích thần kinh, tạo hưng phấn, giảm mệt mỏi. Ngoài ra, caffeine còn có thể bổ sung vào dược phẩm, làm chất giảm đau, trị một số bệnh…. xi do an TÓM TẮT ĐỒ ÁN Đề tài nghiên cứu này trình bày những kết quả nghiên cứu khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly caffeine từ cà phê bằng phương pháp vi sóng, từ đó tối ưu hóa điều kiện trích ly để đạt hiệu suất thu hồi caffeine cao nhất và xây dựng quy trình sản xuất caffeine.Tiến hành khảo sát mức độ ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly caffeine qua các yếu tố: kích thước nguyên liệu (<1mm, 1-2mm, >2mm), độ ẩm nguyên liệu (9,02%, 6,7%, 4,9%, 3,2%), thời gian vi sóng (2 phút, 4 phút, 6 phút và 8 phút), công suất vi sóng (200W,400W,600W và 800W), tỷ lệ nguyên liệu/dung môi (1:5, 1/8, 1:10) và khảo sát số lần trích ly ( 1,2,3,4 lần).
Tối ưu hóa điều kiện trích ly caffeine được tiến hành khảo sát ở các yếu tố công nghệ trong khoảng giá trị cụ thể như sau: thời gian (2 - 6 phút), công suất vi sóng (400 - 800W), tỷ lệ nguyên liệu /dung môi (1:6 - 1:10). Kết quả sau khi xữ lý bài toán tối ưu một mục tiêu tìm được điều kiện trích ly đạt hiệu suất thu hồi caffeine cao nhất là thời gian 6,83 phút, công suất 882,843 W và tỷ lệ dung môi là 80ml. Đây là điều kiện trích ly tối ưu cho sản phẩm bột caffeine đạt chất lượng so với các sản phẩm caffeine khác trên thị trường. xii do an TỔNG QUAN 1.
TỔNG QUAN VỀ CÂY CÀ PHÊ 1. Nguồn gốc cây cà phê [13] Từ "cà phê" trong tiếng Việt có gốc từ chữ café của tiếng Pháp. Giống như các ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, café có gốc từ kahveh của tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và kahveh đến từ qahwa của tiếng Ả Rập. Trong tiếng Anh, từ coffee xuất hiện lần đầu tiên từ sớm cho đến giữa những năm 1600, nhưng thể sớm nhất của từ này đến vào khoảng 10 năm cuối của những năm 1500.
Xuất phát từ từ caffè của tiếng Ý. Từ trên được giới thiệu ở châu Âu thông qua những người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman kahve có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập: ق هوة,qahweh. Nguồn gốc nguyên thủy của từ Ả Rập là không rõ ràng, nó cũng có nguồn gốc tôn giáo Kaffa ở phía Tây Ethiopia, nơi cà phê được trồng trọt, hoặc sự bới đi từ qahwat al-būnn', có ý nghĩa là "rượu của đậu" trong tiếng Ả Rập. Ở Eritrea, "būnn" (cũng có nghĩa là "rượu của đậu" trong Tigrinya) cũng được dùng.
Tên Amharic và Afan Oromo cho cà phê là bunna [29]. Theo một truyền thuyết đã được ghi lại trên giấy vào năm 1671, những người chăn dê ở Kaffa (thuộc Ethiopia ngày nay) phát hiện ra một số con dê trong đàn sau khi ăn một cành cây có hoa trắng và quả màu đỏ đã chạy nhảy không mệt mỏi cho đến tận đêm khuya. Họ bèn đem chuyện này kể với các thầy tu tại một tu viện gần đó. Khi một người chăn dê trong số đó ăn thử loại quả màu đỏ đó anh ta đã xác nhận công hiệu của nó.
Sau đó các thầy tu đã đi xem xét lại khu vực ăn cỏ của bầy dê và phát hiện ra một loại cây có lá xanh thẫm và quả giống như quả anh đào. Họ uống nước ép ra từ loại quả đó và tỉnh táo cầu nguyện chuyện trò cho đến tận đêm khuya. Như vậy có thể coi rằng nhờ chính đàn dê này con người đã biết được cây cà phê. Tại Việt Nam, cây cà phê được các nhà truyền đạo công giáo đưa vào trồng thử năm 1857 ở Bố Trạch (Quảng Bình) và Quảng Trị.
Đến năm 1870 cây cà phê đã thấy ở Hà Nam Ninh. Năm 1888, thực dân Pháp đã thành lập các đồn điền cà phê ở Nghệ An, Quảng Trị, Đắc Lắc. Các đồn điền lớn mọc lên ở Ngàn Tươi, Ngàn phố, Ngàn Sâu – Hà Tĩnh (1910), Yên Mỹ - Thanh Hoá (1911), Nghĩa Đàn - Nghệ An (1913)… Đến 1920-1925, khi khai phá vùng đất ba-zan phì nhiêu ở Tây Nguyên, người Pháp đã đưa cà phê vào trồng ở đây. Đến 1945 tổng diện tích cà phê toàn quốc khoảng 10.070 ha, năng suất cà phê chè khoảng 4-5 tạ/ha, cà phê vối 5-6 tạ/ha.
1 do an Trong thời gian chiến tranh tình hình sản xuất cà phê có nhiều biến đổi. Ở miền Bắc, các nông trường duy trì sản xuất ngay cả những năm chiến tranh ác liệt. Nhưng do quy hoạch trồng cà phê không đúng đắn ngay từ đầu nên nhiều nông trường được thiết lập ồ ạt sau này phải thanh lý. Ở miền Nam sau 1968, do chiến tranh nhiều vùng phải bỏ hoang, đến 1973 chỉ còn 8872 ha, năm 1975 khoảng 10.000 ha, phần lớn cà phê sản xuất ra được tiêu dùng nội địa.
Sau ngày giải phóng 4/1975 ngành cà phê ở giai đoạn phát triển chưa từng có, chỉ trong 2 năm 1978-1979 tỉnh Đắc Lắc đã phát động phong trào rầm rộ trồng được 6.000 ha cà phê tạo khí thế mạnh mẽ và quyết tâm cao. Nhưng do chưa chuẩn bị chu đáo, thiếu trình độ chuyên môn nên đã gặp nhiều khó khăn, không lâu sau đó một diện tích lớn cà phê bị huỷ bỏ, số còn lại còi cọc, không hiệu quả [14]. Vào thập kỷ 80, chính phủ ta kí hàng loạt hiệp định hợp tác sản xuất với Liên Xô (cũ), CHDC Đức, Bungari, Tiệp Khắc, Balan đã tạo điều kiện cho cà phê có vốn đầu tư, thiết bị để bước vào thời kì phát triển mới. Khoảng 10 năm gần đây, cây cà phê Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ về diện tích, năng suất và sản lượng[41].
Đặc tính thực vật [13-14] Cà phê là tên một chi thực vật thuộc họ Thiến thảo (Rubiaceae). Ho này bao gồm khoảng 500 chi khác nhau với trên 6.000 loài cây nhiệt đới. Chi cà phê bao gồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau. Tuy nhiên, không phải loài nào cũng chứa caffein trong hạt, một số loài khác xa với những cây cà phê ta thường thấy.
Chỉ có hai loài cà phê có ý nghĩa kinh tế.