CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE PHƯƠNG PHAP CHI PHI DU LICH TRONG LƯỢNG GIA GIA TRI CANH QUAN RUNG NGAP MAN 1. Rừng ngập mặn va Tổng giá trị kinh tế của rừng ngập mặn 1.1 Khải niệm rừng ngập mặn RNM được hình thành bởi các cây ngập mặn nếu diện tích che phủ đạt trên 10%. Loại rừng này bao gôm các loài cây ngập mặn chính thống, đó là những loài cây chỉ có ở RNM và các loài cây gia nhập RNM, những loài cây có thể gặp ở cả trong RNM và những vùng khác nữa (Phan Nguyên Hong, 1991). Hệ sinh thái RNM được lượng giá là một trong các hệ sinh thái có năng suất sinh học cao nhất trong các hệ sinh thái.
Các lá cây ngập mặn rụng xuống chiếm 50-70% năng suất sơ cấp ròng. Đây là nguồn chất hữu cơ phân hủy và hòa tan trong chuỗi, lưới thức ăn và xuất khâu theo dòng nước tạo nguồn dinh dưỡng cho các loài động vật, thủy, hải sản của cả vùng ven biển rộng lớn. Hệ thống rễ cây ngập mặn có kha năng lọc và hap thụ một số chất độc hại trong đất và nước. Bun tram tích RNM là nơi tích tụ các chất hữu cơ phân hủy tạo điều kiện cho các loài vi sinh vật hoạt động với năng suất 0,2-10g C/m3/ngay.
RNM là môi trường sống của nhiều loài thủy hải sản độc đáo, phong phú. Rừng ngập mặn bao gồm nhiều loại cây sống trong các vùng nước mặn ven biển, vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi những thực vật khác rất khó sinh trưởng. Những khu vực này lộ ra khi thủy triều thấp và ngập trong nước mặn khi triều lên. Với các đặc tính của mình, cây ngập mặn vẫn có thể sống và sinh trưởng tốt trong những điều kiện khắc nghiệt đó.
Tổng giá trị kinh tế của rừng ngập mặn RNM là một tài sản môi trường nên tổng giá trị kinh tế của RNM về nguyên tắc có thé xem xét thông qua các thành phần giá trị của một tài sản môi trường theo minh họa ở hình I Hình 1: Tong giá trị kinh tế của RNM TEV DUV IDUV OV BV EXV TEV = UV+NUV = (DUV + IDUV+ OV) + (BV + EXV) Nguồn:[6] Giá trị sử dụng (UV): là loại giá trị hình thành từ việc thực sự sử dụng môi trường. Người câu cá, thợ săn, người đi đường,.đều sử dụng môi trường và thu được lợi ích mà không phải trả tiền trực tiếp. Nó bao gồm: Giá trị sử dụng trực tiếp (DUV): La những giá tri ma trong thực tế môi trường RNM cung cấp và có thể tiêu dùng trực tiếp như gỗ, củi, thủy sản, mật ong hay giá trị du lịch, giải trí. = Cung cấp hang hóa đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho xây dựng va năng lượng để đun nấu cho người dân địa phương như gỗ làm nhà, đóng giường tủ, củi đun nau, mật ong, nước giải khát,., các sản phẩm từ thủy hải sản là nguồn thực phẩm quan trọng cho người dân địa phương.
-6- "Cung cấp dich vụ giải trí, du lịch: hệ sinh thái RNM cung cấp nhiều dịch vụ du lịch tùy thuộc vào trình độ nhận thức, mức sống và thói quen của người dân. Các dịch vụ này bao gôm di câu cá, quan sát chim, ngăm cảnh thiên nhién,. = Giao thông đường thủy trong các kênh rạch RNM là hình thức vận tải giao lưu hàng hóa hiệu quả, ít tốn kém so với việc xây dựng đường sá cầu cống trong các vùng đầm lầy mặn. Hệ rễ cây ngập mặn góp phan làm cho đất tơi xốp dễ thấm nước tạo nên dịch vụ lưu trữ nguồn nước vào mùa mưa và cung cấp nước cho các vùng phụ cận vào mùa khô Giá trị sử dụng gián tiếp (IDUV): Là những giá trị dựa chủ yếu trên chức năng của hệ sinh thái, có ý nghĩa về mặt sinh thái và môi trường, có chức năng gián tiếp hỗ trợ cho hoạt động kinh tế, hoạt động sông của con người đảm bảo lợi ích của con người và đảm bảo những thảm họa có thê không xảy ra.
Những giá tri, lợi ích từ dịch vu do hệ sinh thái RNM cung cấp và các chức năng sinh thái bao gồm: ". Góp phân hạn chê xói lở bờ biên và sông, ngăn bão sóng biên đê bảo vệ hoạt động sản xuât và đời sông của con người phía trong RNM. = Tăng lượng bi tụ trầm tích: các hệ thống cây và rễ cây chăng chit của RNM góp phan làm giảm lưu lượng nước, dòng chảy tạo điều kiện cho tram tích lang đọng trong các vùng cửa sông ven biên. " Cung cap thức ăn, nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng con non va là vườn ươm cho các loài thủy sản ven biến, nơi ở cho các loài chim di cư.
= Hấp thụ CO2 và cung cấp O2, điều hòa khí hậu "Lọc nước và hấp thụ các chất độc hại, ô nhiễm vùng cửa sông ven biển. Các chất độc hại và ô nhiễm từ các khu công nghiệp, đô thị thải vào sông suối, hòa tan trong nước hoặc lắng xuống đáy trong thành các hạt phù sa, trầm tích được nước sông mang ra các vùng cửa sông ven biển. Cây ngập mặn hấp thu các chất này vào trong cơ thê tạo ra các hợp chât ít độc hơn đôi với con người. -7- Giá trị tùy chon (OV): là những giá trị sử dung trực tiếp hoặc giá tri sử dung gián tiếp của RNM mặc dù có thể sử dụng ở hiện tại nhưng chưa được sử dụng vì một lý do nào đó mà dé lại dé sử dụng ở tương lai.
Ví dụ giá trị du lịch, cảnh quan, được phẩm tiềm năng. Giá trị phi sử dụng (NUV): là những giá trị bản chất thật sự của sự vật, nhưng nó không liên quan đến việc sử dụng thực tế , hoặc thậm chí việc chọn lựa sử dụng sản phẩm này. Thay vào đó các giá trị này được coi như những yếu tố phản ánh sự lựa chọn của con người nó có thê bao hàm cả nhận thức về các giá trị tồn tại của các giống loài khác nữa hoặc cả quần thể hệ sinh thái. Giá trị phi sử dụng được chia thành giá trị dé lại và giá tri tôn tại.
Giá trị để lại (BV): là sự thỏa mãn nằm trong cảm nhận của cá nhân khi biết rằng tài nguyên RNM được lưu truyền và hưởng thụ bởi các thế hệ tương lai. Giá trị này cũng thường được đo bằng sự sẵn sàng chỉ trả của cá nhân đề bảo tổn tài nguyên cho các thế hệ mai sau. Giá trị tôn tại (EX V): Gia tri tồn tại của RNM là giá tri nằm trong nhận thức, cảm nhận và sự thỏa mãn của một cá nhân khi biết được các thuộc tính của RNM đang ton tại ở một trạng thái nào đó và thường được đo bang sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để có được trạng thái đó. Dé cụ thé hơn, đối với tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái RNM, ta có bảng tông hợp giá trị kinh tế của RNM -8- Bang 1: Tổng hop giá trị kinh tế của RNM Giá trị sử dụng Giá trị sử dụng Giá trị tùy chọn Giá trị phi sử trực tiếp gián tiếp dụng - Cung cap năng - Ôn định ven bờ - Nguôn dược liệu - Giá trị bảo tồn đa lượng: gõ, củI,.
tiêm năng dạng sinh học - Phòng chống thiên - Khai thác nuôi tai, bão lũ -Cảnh quan giúp - Giá trị văn hóa trồng thủy sản phát triển du lịch lịch sử - Chứa đựng và xử - Cung câp các sản lý các chất gây ô - Giá trị tôn giáo và phâm dược liệu vật nhiễm chính tri liệu xây dựng - Cung cấp nơi ở - Giá trị lưu truyền - Mạng lưới giao cho động thực vật thông đường thủy - Bé lọc CO2 không quan trọng. x 16 A - Mang đến dịch vụ - Ngăn chan sự xâm du lịch hấp dẫn nhập mặn Nguồn: [2] 1. Sự cần thiết phải lượng giá giá trị RNM Luong giá giá tri RNM là một công việc khó khăn, phức tap song nó có ý nghĩa quan trọng. Đó là việc sử dụng các công cụ kỹ thuật nhằm lượng giá giá trị bằng tiền của RNM làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách về khai thác, sử dụng và quản lý bảo tồn RNM.
Việc lượng giá giá trị tài sản của RNM có ý nghĩa: Thứ nhất, Nhà nước đang thực hiện đầu tư lớn bằng ngân sách cho hoạt động bảo tồn các hệ sinh thái cảnh quan RNM song lợi ích của các công tác này mới được nhìn nhận bằng định tính. Lượng giá giá trị của RNM sẽ giúp chúng ta nhìn nhận một cách tong thé, day đủ hơn về các hoạt động gìn giữ, bảo tồn đa dạng sinh học nơi đây. -9- Thứ hai, môi trường RNM cung cấp nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động của con người và không gian sống cho các loài động thực vật, đồng thời cũng cung cấp tài nguyên cho quá trình sản xuất vật chất và hấp thụ chất thải trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của con người. Lượng giá giá trị của RNM dé tránh những thất bại thị trường xảy ra như gây thiệt hại đến vốn tài nguyên thiên nhiên quan trọng, giảm tính đa dạng sinh hoc, de dọa đến sự tồn tại của các loài động thực vật quý hiếm và cảnh báo những dự án có tác động tiêu cực đến RNM.
Thứ ba, việc lượng giá giá trị RNM là cơ sở để Nhà nước cân nhắc khi đưa ra quyết định ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên. Lượng giá góp phần thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm trả tiền” tức là qua lượng giá môi trường Nhà nước sẽ xác định được mức dé bù, bồi thường khi cá nhân, tô chức gây tốn hại đến tài sản tự nhiên của RNM. Thứ tư, khi cả giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng của RNM được lượng hoá, thì sẽ có tính thuyết phục cao trong việc giáo dục nâng cao nhận thức của người dân nói chung cũng như có thé chi dẫn quá trình thực hiện về mặt kinh tế đúng đắn hơn. Thứ năm, nêu tiên hành lượng giá giá trị RNM một cách cân thận thì sẽ tạo ra được một nền tảng cơ sở chính sách an toàn và hợp lý, qua đó sẽ có phương thức sử dụng môi trường RNM cân thận hơn.
Như vậy, việc lượng giá giá trị RNM là hoàn toàn cần thiết và hữu ích. Dưới đây là phương pháp được sử dụng nghiên cứu chính trong chuyên đề. Phương pháp chỉ phí du lịch TCM 1. Khái niệm TCM là phương pháp dựa trên cơ sở những điểm du lịch có sức hấp dẫn đối với khách, thường là những nơi có chất lượng môi trường tốt và dựa vào khách du lich dé lượng giá chất lượng môi trường.