CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH ( TCM ) 1.CẢNH QUAN MÔI TRƯỜNG 1. Cảnh quan môi trường là một thuật ngữ dùng để nói một cách rộng rãi đến trạng thái môi trường tự nhiên.Khái niệm này bao gồm cả khái niệm về chất lượng môi trường xung quanh, và cũng bao hàm các khái niệm như chất lượng cảnh quan và chất lượng thẩm mỹ của môi trường. Giá trị cảnh quan môi trường phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng môi trường.Một giả thiết cơ bản là chất lượng môi trường được thể hiện ở chất lượng của các dịch vụ giải trí mà môi trường cung cấp.Việc đánh giá chất lượng môi trường với đúng giá trị của nó có vai trò rất quan trọng. Đã qua một thời gian rất lâu, toàn xã hội vẫn nhìn nhận hàng hóa môi trường không đúng với giá trị thực của nó ( tổng giá trị kinh tế), giá trị đó đã bị coi thấp đi hay bị bỏ qua hoàn toàn.Chúng vẫn không được đo lường và không được lượng giá, vì thế đã bị khai thác một cách không hiệu quả.Đó là một sự thất bại của thị trường.Các hàng hóa như sông, hồ , không khí sạch không được định giá bởi vì chúng không được mua bán trên thị trường như bánh mì, thịt, sữa.Việc tính đúng, tính đủ giá trị của chất lương môi trường sẽ mang lại hiệu quả rất lớn không những về giá trị kinh tế mà còn về giá trị môi trường, giúp cho việc phục hồi, tăng cường và bảo tồn chất lượng tài nguyên tự nhiên và các hệ sinh thái.Chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể về chất lượng môi trường cũng như cách tính toán cụ thể.Giá trị kinh tế của chất lượng môi trường.
Các nhà kinh tế học phân loại giá trị kinh tế trong mối quan hệ của chúng với môi trường tự nhiên, xem xét mối quan hệ giữa chủ thể ( con người ) người định ra giá trị và khách thể - vật được đánh giá.Môi trường có thể cung cấp những hàng hóa trực tiếp như tôm, cá , củi, những nguồn nguyên vật liệu đầu vào của quá trình sản xuất, các dịch vụ sinh thái như hạn chế bão lũ, chống sói mòn, điều hòa khí hậu.Nói cách khác, môi trường cung cấp cho con người và hệ thống kinh tế những giá trị và khi sử dụng chúng, bằng cách này hay cách khác thì con người sẽ thu về những lợi ích nhất định. Trên nguyên tắc đó, để đo lường tổng giá trị kinh tế, các nhà kinh tế học bắt đầu bằng việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. -Giá trị sử dụng: Chính là giá trị sử dụng mà con người thu được khi sử dụng một tài nguyên thiên nhiên hay một dịch vụ nào đó kèm theo.Giá trị sử dụng được chia thành 2 loại: giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp - Giá trị sử dụng trực tiếp: là giá trị trực tiếp mà chúng ta thu được khi sử dụng một nguồn tài nguyên thiên nhiên nào đó.Ví dụ khi chúng ta trực tiếp khi thác và sử dụng nguồn tài nguyên như gỗ hay săn bắn chim thú, đó chính là giá trị sử dụng trực tiếp mà con người thu được - Giá trị sử dụng gián tiếp.Xét trong một mặt nào đó thì đây chính là giá trị mà chức năng của những hệ sinh thái tạo ra.Những chức năng đó phục vụ cho con người, vì thế nó cần phải được lượng giá. Ví dụ: một khu rừng, ngoài chức năng cung cấp gỗ, nó còn có chức năng bảo vệ chống sói mòn, giữ nước, hút CO2 …Tất cả những chức năng này trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho lợi ích kinh tế và lợi ích của con người.
- Giá trị tùy chọn: Một cá nhân có thể tự đánh giá cách sử dụng môi trường hay tài nguyên môi trường trong tương lai.Giá trị tùy chọn là giá trị của môi trường như là lợi ích tiềm tàng trong tương lai khi nó trở thành giá trị thực khi nó được sử dụng trong hiện tại.Mỗi cá nhân có thể sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường để chống lại những khả năng sử dụng của một người nào đó trong tương lai.Giá trị tùy chọn con bao gồm cả những giá trị sử dụng của những người khác( nghĩa là lợi ích gián tiếp mà bạn thu được từ giá trị sử dụng của những người khác.Bạn cảm thấy hài lòng khi những người khác cũng thu được lợi ích và sẵn sàng bảo vệ môi trường để đem lại lợi ích cho người khác) và giá trị sử dụng bởi các thế hệ tương lai Giá trị tùy chọn = giá trị sử dụng cá nhân + giá trị sử dụng của những người khác + giá trị sử dụng bởi các thế hệ tương lai. Tổng giá trị người sử dụng thu được = giá trị thực lựa chọn + giá trị lựa chọn. -Giá trị phi sử dụng: thể hiện các giá trị phi phương tiện nằm trong bản chất thật của sự vật, nhưng nó không liên quan đến việc sử dụng thực tế, thậm chí việc chọn lựa sử dụng sự vật này. - Giá trị tùy thuộc( giá trị để lại): Giá trị này cũng phụ thuộc vào tính đặc trưng về sinh thái của hệ sinh thái mà quan điểm của người đánh giá đưa ra, trong đó nó liên quan chặt chẽ tới tính đặc thù, đặc trưng của từng hệ sinh thái.Việc lượng hóa các giá trị này hết sức khó khăn và nó cũng phụ thuộc vào cách tiếp cận của từng chuyên gia.
- Giá trị tồn tại( EXV) là những giá trị có được nhờ duy trì của hệ sinh thái của thế hệ trước để lại cũng như việc chúng ta phải đầu tư, duy trì nó để mang lại giá trị cho tương lai Như vậy dựa trên việc tính toán giá trị kinh tế của hệ sinh thái trên quan điểm tổng hợp người ta đã đưa ra giá trị TEV.Đây là cơ sở cho các nhà kinh tế học môi trường đưa ra các phương pháp tiếp cận, đánh giá nhằm lượng hóa các giá trị của môi trường, phục vụ cho việc hoạch định chính sách, duy trì, bảo tồn, đảm bảo tính bền vững.TEV được khái quát bằng công thức sau: TEV = UV + NUV = ( DUV + IUV + OV) + ( BV + EX) Ta có sơ đồ mô tả như sau TEV UV NUV DUV IUV OV BV EXV Hình 1. Sơ đồ TEV Trong đó: - TEV : Tổng giá trị kinh tế - UV : Giá trị sử dụng - DUV : Giá trị sử dụng trực tiếp - IDUV: Giá trị sử dụng gián tiếp - NUV : Giá trị phi sử dụng - OV : Giá trị tùy chọn - BV : Giá trị tùy thuộc hay giá trị để lại - EXV : Giá trị tồn tại Để có thể hiểu rõ hơn về TEV, chúng ta hãy xem xét ví dụ về TEV của một khu rừng ngập mặn - Giá trị sử dụng trực tiếp: tôm, cá, mật ong…những sản phẩm có thể trao đổi, buôn bán trên thì trường - Giá trị sử dụng gián tiếp : hạn chế bão, sóng, đóng vai trò như một túi lọc - Giá trị tùy chọn : tùy thuộc vào từng khu rừn ngập mặn.Ví dụ, ở rừng ngập mặn ở Giao Thủy đó là điểm dừng chân của loài chim quý hiếm: cò mỏ thìa - Giá trị tùy thuộc : liên quan đến tính chất phụ thuộc của nó - Giá trị tồn tại : là giá trị mà khu rừng ngập mặn đó để lại cho thế hệ mai sau: cảnh quan, đa dạng sinh học, … 1. Ý nghĩa của việc định giá chất lượng môi trường. Như chúng ta đã biết, việc định giá đúng và đủ chất lượng môi trường có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo tồn, duy trì và phát triển.Từ đó làm nền tảng cho việc xây dựng chính sách môi trường có hiệu quả.
Thứ nhất : Cần phải khẳng định rằng, chất lượng môi trường cũng là hàng hóa, tức là nó có giá trị và giá trị sử dụng.Mà đã là hàng hóa thì việc định giá là cần thiết, từ đó tránh được những thất bại của thị trường. Thứ hai : Khi chất lượng môi trường được định giá đúng và chính xác khi đó cách nhìn nhận, quan niệm, hành vi của con người từ đó cũng có những thay đổi tích cực hơn.Là cơ sở của nguyên tắc “ người gây ô nhiễm phải trả tiền ” Thứ ba : Việc đánh giá chất lượng môi trường sẽ cho phép chúng ta xem làm thế nào để đạt được cân bằng chuẩn giữa chất lượng môi trường và GNP( tổng thu nhập quốc dân).Muốn đạt được sự cân bằng đó cần phải có sự quản lý nghiêm ngặt đối với các nguồn tài nguyên. Như vậy việc định giá chất lượng môi trường có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo tồn, duy trì và phát triển các nguồn tài nguyên, các hệ sinh thái.Nếu chúng ta có được những phương thức đánh giá những hàng hóa môi trường này và đưa chúng vào việc hình thành chính sách, thì chúng ta có thể đưa ra những quyết định về môi trường sáng suốt so với những quyết định về môi trường hiện hành.Sau đây chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu các phương pháp dùng để định giá môi trường 1.4 Các phương pháp định giá môi trường. Để đánh giá giá trị của hàng hóa môi trường, hiện nay các nhà kinh tế môi trường dựa trên cơ sở lý thuyết nền tảng kinh tế học và những vấn đề môi trường.Qua đó đã đưa ra những kỹ thuật đánh giá có cơ sở khoa học thực tiễn được áp dụng và phổ biến khá rộng rãi trên thế giới.Trong đó vấn đề cốt lõi cuối cùng là phải xác định được giá của chất lượng môi trường.Các nhà kinh tế học cho rằng có hai phương pháp cơ bản được sử dụng là * Các phương pháp không sử dụng đường cầu.
* Các phương pháp sử dụng đường cầu. Các phương pháp không sử dụng đường cầu. Đây là những phương pháp khi đưa vào đánh giá không cần thiết phải sử dụng mô hình hàm cầu, mà người ta dựa trên những nguyên lý kinh tế để đánh giá kết hợp những mô hình đã có, các nguyên lý và sự biến động trong môi trường * Các phương pháp không sử dụng đường cầu bao gồm: - Phương pháp liều lượng đáp ứng - Phương pháp chi phí thay thế - Phương pháp chi phí cơ hội 1. Các phương pháp sử dụng đường cầu Về bản chất, phương pháp sử dụng hàm cầu dựa trên nguyên lý hàm lợi ích có được từ sự bằng lòng chi trả của khách hàng để thảo mãn một nhu cầu nào đó về hàng hóa và dịch vụ, phần giới hạn phía dưới hàm cầu chính là tổng lợi ích có được.Và đây là cơ sơ để xác định tổng giá trị về lợi ích môi trường.