Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập năm 1962 theo Quyết định số 72-TTg của Thủ tướng Chính phủ, là khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Việt Nam với tổng diện tích 22.200 ha trải dài trên địa bàn 3 tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa. Khu vực này sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi đặc sắc với 1.983 loài thực vật bậc cao và 480 loài động vật có xương sống, chiếm khoảng 38% tổng số loài động vật của cả nước. Hàng năm, vườn đón khoảng 40.000 đến 52.000 lượt khách du lịch, mang lại nguồn doanh thu trực tiếp đạt trên 1,7 tỷ đồng.

Tuy nhiên, các giá trị cảnh quan và dịch vụ hệ sinh thái chưa được thị trường định giá đầy đủ, dẫn đến tình trạng xem nhẹ giá trị thực của tài nguyên và thiếu hụt nguồn lực tài chính cho công tác bảo tồn. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết sự thất bại của thị trường thông qua việc lượng hóa giá trị kinh tế của cảnh quan thiên nhiên phục vụ du lịch sinh thái.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là ứng dụng phương pháp Chi phí Du lịch theo vùng (ZTCM) để xây dựng đường cầu giải trí, xác định thặng dư tiêu dùng và mức độ sẵn lòng chi trả của du khách đối với cảnh quan Vườn quốc gia Cúc Phương. Nghiên cứu được thực hiện trên không gian địa lý Vườn quốc gia Cúc Phương và các tỉnh lân cận khu vực phía Bắc, sử dụng chuỗi số liệu khảo sát thực tế và dữ liệu thống kê từ năm 2004 đến năm 2009. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học định lượng nhằm nâng cao hiệu quả quản trị tài chính, tối ưu hóa mức thu phí tham quan và bảo tồn bền vững 22.200 ha rừng đặc dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value - TEV) và Lý thuyết Kinh tế học phúc lợi về thặng dư tiêu dùng. Theo khung TEV, giá trị của một hệ sinh thái được phân tách thành hai hợp phần chính: Giá trị sử dụng (Use Value - UV) và Giá trị phi sử dụng (Non-use Value - NUV). Trong đó, giá trị sử dụng bao gồm Giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value - DUV) từ hoạt động khai thác du lịch, lâm sản; Giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value - IUV) từ chức năng phòng hộ, điều hòa khí hậu; và Giá trị tùy chọn (Option Value - OV) cho các nhu cầu tương lai. Giá trị phi sử dụng bao gồm Giá trị để lại (Bequest Value - BV) và Giá trị tồn tại (Existence Value - EXV).

Bên cạnh khung TEV, mô hình hàm cầu giải trí môi trường được áp dụng dựa trên nguyên lý sở thích biểu lộ. Cảnh quan thiên nhiên là hàng hóa công cộng không có giá thị trường trực tiếp, do đó chi phí mà du khách bỏ ra để thực hiện chuyến đi đóng vai trò là giá đại diện gián tiếp cho chất lượng môi trường. Thặng dư tiêu dùng (Consumer Surplus - CS) biểu thị phần phúc lợi kinh tế ròng mà du khách nhận được, được tính toán thông qua tích phân diện tích nằm dưới đường cầu giải trí và phía trên mức chi phí thực tế. Mức sẵn lòng chi trả (Willingness To Pay - WTP) phản ánh giới hạn ngân sách tối đa mà cá nhân chấp nhận đóng góp để duy trì và cải thiện chất lượng cảnh quan.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp bao gồm báo cáo hoạt động du lịch của Vườn quốc gia Cúc Phương, các chỉ số nhân khẩu học và mức lương tối thiểu vùng từ Tổng cục Thống kê giai đoạn 2005–2009. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 67 phiếu điều tra hợp lệ từ các du khách nội địa từ 18 tuổi trở lên. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng tại các điểm tham quan chính trong vườn. Nghiên cứu chủ động loại trừ đối tượng dưới 18 tuổi do chưa tự chủ tài chính và du khách quốc tế do tính chất phức tạp trong phân vùng khoảng cách và sai số chi phí di chuyển xuyên quốc gia.

Phương pháp phân tích trọng tâm là Phương pháp Chi phí Du lịch theo vùng (Zone Travel Cost Method - ZTCM). Toàn bộ thị trường khách du lịch được chia thành 4 vùng xuất phát dựa trên cự ly địa lý: Vùng 1 (dưới 100 km), Vùng 2 (100–150 km), Vùng 3 (150–200 km), và Vùng 4 (trên 200 km). Tỷ lệ tham quan trên 1.000 dân của từng vùng ($VR_j$) được mô hình hóa theo hàm tuyến tính phụ thuộc vào chi phí du lịch bình quân ($TC_j$), bao gồm chi phí vận chuyển, chi phí cơ hội của thời gian (ước tính theo mức lương tối thiểu vùng từ 650.000 đến 800.000 VNĐ/tháng) và các chi phí dịch vụ khác. Quá trình xử lý dữ liệu và ước lượng hàm hồi quy được thực hiện bằng các công cụ phân tích thống kê trên phần mềm chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả kiểm định hàm cầu chỉ ra mối quan hệ nghịch biến chặt chẽ giữa chi phí chuyến đi và tỷ lệ tham quan. Tại Vùng 1 (Ninh Bình, cự ly dưới 100 km), chi phí giao thông bình quân chỉ ở mức 102.333 VNĐ/người, tương ứng với tỷ lệ tham quan cao nhất đạt 4,09 lượt/1.000 dân. Ngược lại, tại Vùng 4 (các tỉnh cách trên 200 km như Thái Nguyên, Nghệ An, Quảng Ninh), chi phí giao thông tăng lên 175.651 VNĐ/người khiến tỷ lệ tham quan giảm mạnh xuống còn 1,18 lượt/1.000 dân, tương đương mức sụt giảm khoảng 71,15% so với Vùng 1.

Thứ hai, đánh giá của du khách về chất lượng môi trường đạt tỷ lệ hài lòng tuyệt đối 100% (67/67 phiếu khảo sát). Các giá trị về khí hậu trong lành nhiệt độ bình quân 24,7°C, hệ thực vật nguyên sinh và các loài động vật quý hiếm được ghi nhận là động lực cốt lõi thu hút khách du lịch.

Thứ ba, cơ cấu nhân khẩu học của du khách phản ánh tính đặc thù cao của du lịch sinh thái. Nhóm tuổi từ 20 đến 30 chiếm đa số với tỷ lệ 67,16%, trong khi nhóm học sinh, sinh viên chiếm tới 40,30% tổng mẫu khảo sát. Khách tham quan chủ yếu di chuyển theo đoàn lớn, trong đó các nhóm từ 10 đến trên 20 người chiếm tỷ trọng lên tới 74,62%. Phương tiện di chuyển chủ lực là xe ô tô với 77,61%, tiếp theo là xe máy với 8,96%.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện sự thiếu hụt nghiêm trọng về dịch vụ hạ tầng bổ trợ. Khoảng 37,31% du khách bày tỏ sự không hài lòng về chất lượng dịch vụ và 34,33% phản ánh về hạn chế của cơ sở hạ tầng lưu trú, cấp điện và nước. Đồng thời, hơn 70% du khách tham gia khảo sát thể hiện sự sẵn lòng chi trả mức phí bổ sung từ 10.000 đến 20.000 VNĐ để thành lập quỹ bảo tồn môi trường.

Thảo luận kết quả

Mối tương quan giữa chi phí du lịch và tần suất chuyến đi phản ánh quy luật kinh tế học đường cầu giải trí điển hình dốc xuống. Việc tỷ lệ tham quan sụt giảm rõ rệt theo khoảng cách địa lý khẳng định rào cản chi phí vận chuyển và chi phí cơ hội thời gian tác động trực tiếp đến quyết định tiêu dùng dịch vụ môi trường. Dữ liệu này có thể được trình bày trực quan qua đồ thị hàm cầu giải trí tuyến tính, minh họa diện tích thặng dư tiêu dùng của từng vùng dân cư.

Nguyên nhân dẫn đến cơ cấu khách tập trung mạnh vào học sinh, sinh viên (40,30%) và người trẻ tuổi là do tính chất dã ngoại học đường kết hợp nghiên cứu khoa học (chiếm 19,40% mục đích chuyến đi). Tuy nhiên, nhóm đối tượng này có mức chi tiêu bình quân thấp (47,76% có thu nhập dưới 1.000.000 VNĐ/tháng), dẫn đến thời gian lưu trú ngắn, phần lớn chỉ tham quan trong ngày từ sáng đến chiều và hiếm khi lưu trú qua đêm.

So sánh với các nghiên cứu kinh tế môi trường tại các khu bảo tồn ở khu vực Đông Nam Á, kết quả cho thấy giá vé vào cổng hiện hành (8.000 VNĐ cho sinh viên và 10.000 VNĐ cho người lớn) là quá thấp so với thặng dư tiêu dùng thực tế mà cảnh quan mang lại. Sự chênh lệch giữa giá trị cảm nhận chất lượng môi trường (100% hài lòng) và mức độ hài lòng về hạ tầng (34,33% không hài lòng) cho thấy Ban quản lý chưa khai thác hiệu quả hiệu ứng số nhân trong kinh tế du lịch để tái đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc chính sách giá vé tham quan và đa dạng hóa gói dịch vụ. Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương cần chủ trì điều chỉnh khung giá vé tham quan theo hướng phân loại linh hoạt đối tượng, nâng mức đóng góp bảo tồn thêm 10.000 đến 15.000 VNĐ/vé dựa trên mức độ sẵn lòng chi trả của hơn 70% du khách. Mục tiêu là gia tăng nguồn thu ngân sách từ du lịch thêm 25% đến 30% trong lộ trình thực hiện 2 năm (2026–2027).

Thứ hai, nâng cấp toàn diện cơ sở hạ tầng sinh thái và dịch vụ lưu trú. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình phối hợp với Ban quản lý Vườn quốc gia phân bổ nguồn vốn đầu tư hoàn thiện hệ thống cấp điện, cấp nước sạch và xử lý chất thải tại khu cổng vườn và khu trung tâm. Mục tiêu phấn dấn giảm tỷ lệ du khách không hài lòng về cơ sở hạ tầng từ 34,33% xuống dưới mức 8% trong giai đoạn 3 năm (2026–2028).

Thứ ba, phát triển chuỗi sản phẩm du lịch sinh thái cộng đồng bền vững. Ban quản lý Vườn quốc gia phối hợp với cộng đồng người Mường tại các bản vùng đệm (như bản Mạc, bản Khanh) mở rộng mô hình làng du lịch sinh thái, khôi phục nghề dệt thổ cẩm và du lịch trải nghiệm đêm. Giải pháp này hướng tới mục tiêu nâng thời gian lưu trú trung bình của du khách từ 1 ngày lên 1,8 ngày/khách trong khung thời gian từ 2026 đến 2028.

Thứ tư, thiết lập cơ chế Quỹ bảo tồn cảnh quan và chi trả dịch vụ môi trường rừng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương cần ban hành quy chế thu phí bảo tồn tự nguyện lồng ghép vào các tour du lịch lữ hành. Nguồn quỹ này được cam kết giải ngân 100% cho công tác tuần tra bảo vệ 22.200 ha rừng đặc dụng và phục hồi các loài động thực vật nguy cấp, thực hiện định kỳ hàng năm từ năm 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên. Các đơn vị thuộc Cục Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban quản lý các vườn quốc gia có thể sử dụng kết quả nghiên cứu như một tài liệu tham khảo thực tiễn để xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật, phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và thiết lập chính sách phí dịch vụ môi trường rừng.

Nhóm 2: Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế Tài nguyên, Kinh tế Môi trường và Quản lý Du lịch. Công trình cung cấp quy trình phương pháp luận chuẩn mực về phương pháp ZTCM, kinh nghiệm thiết kế bảng hỏi, kỹ thuật chia vùng địa lý và các bước xử lý dữ liệu định lượng phục vụ các nghiên cứu mở rộng trong tương lai.

Nhóm 3: Các doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển du lịch sinh thái. Doanh nghiệp có thể khai thác các dữ liệu về đặc điểm nhân khẩu học, độ tuổi (67,16% từ 20-30 tuổi) và hành vi tiêu dùng của du khách để thiết kế các tuyến tour dã ngoại chuyên biệt, du lịch giáo dục môi trường và tour nghiên cứu khoa học phù hợp với thị hiếu.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ và các quỹ tài trợ bảo tồn quốc tế (GEF, BirdLife, IUCN). Báo cáo lượng hóa giá trị cảnh quan là cơ sở dữ liệu kinh tế quan trọng để các tổ chức quốc tế đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội khi tài trợ cho các dự án phát triển sinh kế cộng đồng vùng đệm và bảo tồn đa dạng sinh học.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao phương pháp ZTCM lại phù hợp hơn ITCM trong nghiên cứu này? Phương pháp ZTCM phù hợp vì du khách nội địa tại Việt Nam thường đi du lịch không thường xuyên (chỉ 1-2 lần/năm) và hiếm khi quay lại cùng một điểm nhiều lần trong thời gian ngắn. ZTCM giúp gom cụm dữ liệu theo 4 vùng địa lý dựa trên dân số thực tế, loại bỏ sai số khi cá nhân chỉ có tần suất 1 lần/năm.

Khung lý thuyết TEV phân loại giá trị của Vườn quốc gia Cúc Phương như thế nào? Tổng giá trị kinh tế (TEV) chia thành Giá trị sử dụng (trực tiếp như du lịch, gỗ, dược liệu; gián tiếp như phòng hộ, trữ nước; tùy chọn cho tương lai) và Giá trị phi sử dụng (giá trị để lại cho thế hệ sau và giá trị tồn tại của các loài quý hiếm như voọc mông trắng, chò chỉ ngàn năm).

Chi phí cơ hội của thời gian được tính toán như thế nào trong mô hình? Nghiên cứu sử dụng mức tiền công bình quân một ngày dựa trên mức lương tối thiểu vùng theo quy định nhà nước (từ 650.000 đến 800.000 VNĐ/tháng áp dụng cho 4 vùng). Đây là phương pháp khách quan đại diện cho giá trị thời gian mà du khách từ bỏ để thực hiện chuyến đi.

Những điểm nghẽn lớn nhất của hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia Cúc Phương là gì? Khảo sát chỉ ra hai điểm nghẽn chính: 37,31% du khách không hài lòng về chất lượng dịch vụ du lịch và 34,33% phản ánh cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ (hạn chế về phòng nghỉ, nguồn điện, nước). Thêm vào đó, thời gian lưu trú ngắn (chủ yếu trong ngày) làm hạn chế doanh thu du lịch.

Kết quả khảo sát WTP mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn nào? Hơn 70% du khách sẵn sàng đóng góp từ 10.000 đến 20.000 VNĐ vào quỹ bảo vệ môi trường. Số liệu này chứng minh dư địa tài chính khả thi để Ban quản lý phụ thu phí bảo tồn cảnh quan mà không làm suy giảm nhu cầu tham quan của du khách.

Kết luận

  • Luận văn đã ứng dụng thành công phương pháp Chi phí Du lịch theo vùng (ZTCM) để lượng hóa giá trị kinh tế cảnh quan của 22.200 ha Vườn quốc gia Cúc Phương.
  • Nghiên cứu xác lập mối quan hệ định lượng nghịch biến giữa chi phí du lịch và tỷ lệ tham quan qua 4 vùng địa lý (tỷ lệ tham quan giảm từ 4,09 xuống 1,18 lượt/1.000 dân khi chi phí tăng từ 102.333 lên 175.651 VNĐ).
  • Chứng minh tiềm năng kinh tế môi trường to lớn với 100% du khách hài lòng về chất lượng tự nhiên và trên 70% du khách ủng hộ mức sẵn lòng chi trả đóng góp cho công tác bảo tồn.
  • Chỉ ra các hạn chế then chốt về hạ tầng (34,33% chưa hài lòng) và chất lượng dịch vụ (37,31% chưa hài lòng) làm cơ sở cho kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2026–2028.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để các nhà hoạch định chính sách triển khai cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái và hoàn thiện chiến lược du lịch sinh thái bền vững.

Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác chi tiết bộ công cụ phương pháp luận và các ma trận số liệu trong toàn văn luận văn để ứng dụng vào thực tiễn quản lý rừng đặc dụng tại Việt Nam.