CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG ĐẢO VEN BỜ VIỆT NAM VÀ ĐẢO CÔ TÔ, TỈNH QUẢNG NINH 1. Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu lý luận chung về đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, tài nguyên, tiềm năng kinh tế - xã hội các khu vực, vùng lãnh thổ, đặc biệt các vùng với các điều kiện mang tính đặc thù biển và đảo cho mục đích phát triển KT- XH của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đánh giá tổng hợp như công trình của Lê Bá Thảo, Vũ Tự Lập trình bày về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tổng hợp, áp dụng đối với cảnh quan, Lê Đức An, Lê Đức Tố về quan điểm và các nội dung đánh giá tổng hợp hệ thống đảo ven bờ Việt Nam, các tác giả Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Cao Huần, Phạm Quang Anh và nnk về đánh giá điều kiện địa lý và phát triển lý luận nghiên cứu đánh giá cảnh quan Việt Nam và nhiều vùng lãnh thổ khác cho các mục đích thực tiễn. Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình thực tiễn áp dụng phương pháp đánh giá tổng hợp cho phát triển các đối tượng sản xuất, kinh tế ở quy mô cấp tỉnh, huyện, các đơn vị lãnh thổ nhỏ, các công trình công nghiệp, kỹ thuật của nhiều tác giả khác v.
Tài liệu liên quan đến hệ thống đảo ven bờ Việt Nam Các nghiên cứu về biển và hải đảo nước ta đã được Nhà nước cho phép thực hiện từ những năm 1960 trong khuôn khổ các chương trình hợp tác Quốc tế. Tuy nhiên hầu hết các công trình nghiên cứu ở giai đoạn trước mới chỉ dừng lại ở việc điều tra tổng hợp tài nguyên biển. Tiếp theo đó là các công trình đánh giá cho các mục đích ứng dụng cụ thể. Trong đó có thể kể đến hai công trình tiêu biểu sau: 1/.
Đề tài “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội biển” (KT.12) thuộc Chương trình nghiên cứu Biển (KT- 03) do GS. Lê Đức An (1997) chủ trì đã thực hiện điều tra, đánh giá toàn bộ hệ thống đảo ven bờ Việt Nam cho các mục đích: an ninh quốc phòng, di dân kinh tế mới, du lịch, dịch vụ biển, v.18 (1991-1995) đã nghiên cứu và xây dựng luận chứng khoa học kĩ thuật xây dựng và phát triển hệ thống du lịch biển Việt Nam. Năm 2001 đề tài độc lập cấp Nhà nước “Điều tra nghiên cứu hệ thống đảo ven bờ vịnh Bắc Bộ phục vụ cho việc qui hoạch phát triển kinh tế-xã hội bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển” và giai đoạn 2001-2004, đề tài cấp Nhà nước KC.12: “Luận chứng khoa học về một mô hình phát triển kinh tế - sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn vùng biển ven bờ Việt Nam” do GS. Lê Đức Tố chủ trì, bước đầu đã xây dựng được mô hình kinh tế sinh thái trên ba cụm đảo lựa chọn là cụm đảo Ngọc Vừng(tỉnh Quảng Ninh), cụm đảo Cù Lao Chàm (tỉnh Quảng Nam), cụm đảo Hòn Khoai (tỉnh Cà Mau) và nhiều công trình nghiên cứu riêng cho các đảo, huyện đảo của các tác giả khác và của các địa phương,.
và nhiều công trình nghiên cứu khác có liên quan. Hệ thống đảo ven bờ (HTĐVB) là tập hợp các đảo, cụm đảo, quần đảo phân bố trên thềm lục địa, kể từ sát bờ ra đến những đảo xa nhất là Bạch Long Vỹ, Hòn Hải, Bẩy Cạnh, Thổ Chu, Phú Quốc. Theo kết quả thống kê chưa đầy đủ của đề tài KT - 03 - 12, HTĐVB gồm 2.773 đảo với tổng diện tích 1.720km2 (Bảng 1) có 84 đảo có diện tích trên 1km2 với tổng diện tích 1.596 km2 (92,7%), có 24 đảo trên 10km2 và 3 đảo trên 100km2, còn lại là các đảo rất nhỏ (Bảng 1.1: Các nhóm đảo phân chia theo diện tích Nhóm đảo theo Số đảo trong Tỷ lệ trên tổng Tổng diện tích Tỷ lệ trên tổng diện diện tích (km2) nhóm số đảo (%) của nhóm (km2) tích các đảo (%) < 0,001 284 10,24 0,1129 0,01 0,001-0,005 685 24,70 1,6161 0,10 0,005-0,01 418 15,07 2,7909 0,16 12 z 0,01-0,05 779 28,10 17,6136 1,02 0,05-0,1 209 7,54 14,5312 0,84 0,1-0,5 266 9,59 52,8745 3,07 0,5-1 48 1,73 34,7793 2,02 1-5 51 1,84 121,6281 7,07 5-10 9 0,32 61,5910 3,58 10-50 19 0,69 375,6273 21,83 50-100 2 0,07 133,7727 7,77 > 100 3 0,11 903,9378 52,53 Tổng cộng 2773 100 1720,8754 100 Nguồn: “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển KT-XH biển”. Báo cáo tổng hợp, đề tài KT.12 Đảo phân bố suốt từ tây vịnh Bắc Bộ đến đông vịnh Thái Lan nhưng chủ yếu tập trung ở vùng biển ven bờ Bắc Bộ và ven bờ Nam Bộ (Bảng 1.
Các tỉnh có nhiều đảo nhất là Quảng Ninh (74,94%), Hải Phòng (8,76%), Kiên Giang (5,73%), Khánh Hoà (3,82%).2: Số lượng và diện tích hệ thống đảo ven bờ Việt Nam theo các vùng Toàn hệ thống đảo Các đảo có diện tích ≥ 1 km2 TT Số Diện tích Số Diện tích Vùng % % % % đảo (km2) đảo (km2) I Ven bờ Bắc Bộ 2321 83,70 841,1571 48,88 50 59,5 761,1914 47,68 Ven bờ II 57 2,06 14,2478 0,83 3 3,6 9,424 0,59 Bắc Trung Bộ Ven bờ III 200 7,21 172,0015 9,99 16 19,0 153,5418 9,61 Nam Trung Bộ Ven bờ IV 195 7,01 693,4690 40,30 15 17,9 672,3997 42,12 Nam Bộ Tổng 2773 100 1720,8754 100 84 100 1596,5569 100 Nguồn: “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển KT-XH biển”. Báo cáo tổng hợp, đề tài KT.12 Để phát triển, các đảo cần phải có một diện tích đủ lớn. Trong 84 đảo có diện tích trên 1km2, có 33 đảo diện tích trên 5km2 (lớn và trung bình) và 51 đảo còn lại (60,7%) là các đảo nhỏ (1 - 5km2). Chúng chủ yếu phân bố nhiều ở ven bờ Bắc Bộ (59,5%), tiếp đó là ven bờ Nam Trung Bộ và Nam Bộ (Bảng 1.3: Phân loại 84 đảo có diện tích ≥ 1 km2 theo diện tích và vùng phân bố Số đảo theo diện tích Số đảo theo diện tích và vùng Diện Số Tỷ lệ Loại Chung cả Số đảo phân bố theo vùng tích đảo % diện nước 13 z (km2) tích Tỷ lệ % Ven bờ Ven bờ (km2) Ven bờ Ven bờ Bắc Số so với Nam Nam Bắc Bộ Trung Bộ đảo tổng 84 Trung Bộ Bộ đảo > 100 3 3,6 > 100 2 0 0 1 3 3,6 100-20 7 8,3 > 20 6 0 2 2 10 11,8 20-10 14 16,7 > 10 16 0 5 3 24 28,5 10-5 9 10,7 >5 21 0 5 7 33 39,2 50 3 16 15 5-1 51 60,7 >1 84 100 (59,5%) (3,6%) (19,0%) (17,9%) Cộng: 84 100 Nguồn: “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển KT-XH biển”.
Báo cáo tổng hợp, đề tài KT.12 Diễn giải bảng 1. 9 đảo (5-10km2):Thổ Chu (9,9), Hà Loan (8,2), Sâu Nam (7,4), Bẩy Cạnh (7,2), Phượng Hoàng (6,3), Hòn Bà II (6,1), Còng (Quả Soài) (5,5), Cống Nưa (5,5), Nam Du (5,5) 51 đảo 14 đảo (3 - 5km2): Hòn Khoai (4,96), Hòn Mê (4,86), Hang Trại (4,6), Chàng Tây nhỏ (Trần) (4,5), Lão Vọng (4,3), Vạn Vược ( 3,9), Mang (3,8), Bình Ba (3,7), Cù Lao (1-5km2) Xanh (3,5), Minh Hoà (Hòn Nghệ) (3,5), Hòn Thơm (3,5), Hòn Tre II (3,4), Chàng Ngọ (3,2), Bồ Hòn (3,1) 37 đảo (1-3km2): Tuần Châu, Cô Tô con, Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Hòn Mun. Đến cuối năm 2004 Việt Nam đã có 10 huyện đảo ven bờ (HĐVB) thuộc 7 tỉnh và thành phố được thành lập: Quảng Ninh (2), Hải Phòng (2), Quảng Trị (1), Quảng Ngãi (1), Bình Thuận (1), Bà Rịa - Vũng Tàu (1) và Kiên Giang (2) 14 z Cũng cần ghi nhận là trong phạm vi HTĐVB Việt Nam, ngoài 10 huyện đảo trên còn có 9 xã đảo, 1 phường đảo và hàng trăm đảo khác thuộc trực tiếp các đơn vị hành chính trên bờ, từ thuộc xã, phường, huyện, thị xã đến thuộc thành phố. Các xã đảo đó thuộc 4 tỉnh là Quảng Ninh (4), Quảng Nam (1), Khánh Hoà (1) và Kiên Giang (3); 1 phường đảo thuộc thành phố Quy Nhơn.
Các huyện đảo tập trung ở vùng biển Bắc Bộ (4) và Nam Bộ (3) và phân bố phân tán ở vùng biển Trung Bộ (3), có quy mô về diện tích và dân số rất khác nhau. Lớn nhất là huyện đảo Phú Quốc với 593,1km2 và 82. Nhỏ nhất là 2 huyện đảo Bạch Long Vỹ và Cồn Cỏ (mới được thành lập vào 10/2004) với diện tích mỗi đảo chỉ trên 2km2. Theo độ lớn HĐVB có thể chia thành 4 nhóm: - Nhóm HĐVB lớn: Phú Quốc (539,1 km2), Vân Đồn(551,3 km2), Cát Hải (323,1 km2).
- Nhóm HĐVB khá lớn: Côn Đảo (75,2 km2), Cô Tô (46,2 km2). - Nhóm HĐVB trung bình: Kiên Hải (27,9 km2), Phú Quý (16,0 km2), Lý Sơn (10,0 km2). - Nhóm HĐVB nhỏ: Bạch Long Vỹ (4,5 km2), Cồn Cỏ (4,0 km2). Cũng cần lưu ý là có sự khác nhau đáng kể về số liệu diện tích các huyện đảo, theo tài liệu thống kê và theo thực đo trên bản đồ.
Theo số liệu thống kê thì diện tích huyện Vân Đồn là 551,3km2 nhưng theo số liệu đo trên bản đồ thì chỉ khoảng 410km2, chênh nhau đến 141km2, tức 25%. Diện tích huyện Cát Hải cũng tương tự như vậy, số liệu thống kê lớn hơn số đo đạc khá nhiều. Diện tích huyện đảo Bạch Long Vỹ theo Cục Thống kê Hải Phòng là 4,5 km2, thực đo trên bản đồ chỉ 2,2 km2, huyện Cồn Cỏ cũng vậy. Ngược lại, huyện đảo Phú Quý, theo số liệu thống kê có 16,0km2 (số liệu trước đây là 32 km2) nhưng theo đo trên bản đồ huyện có diện tích khoảng 18km2.
Huyện đảo Kiên Hải có 2 số liệu diện tích thống kê khác nhau: 27,9 và 38,7km2 ngay trong niên giám thống kê 2003 tỉnh Kiên Giang (đo đạc là khoảng 25,0km2). Do đó, tổng diện tích các huyện đảo là 1651,3 km2 theo số liệu thống kê và 1348,9km2 theo số liệu đo đạc trên bản đồ, chênh nhau đến trên 300km2, là một con số quá lớn đối với các đảo. Tổng dân số trung bình năm 2004 trên 10 huyện đảo là khoảng trên 227.000 người, trong đó mật độ cao nhất là ở Lý Sơn với 1980,2 người/km2, thậm chí lớn hơn nhiều thị xã, 15 z thị trấn ở đồng bằng Bắc Bộ (thị xã Sơn Tây, mật độ 1.006 người/km2 năm 2001).