Chương 1 chỉ ra khoảng trống nghiên cứu, các vấn đề luận án kế thừa, hoàn thiện và bổ sung, đồng thời trình bày về cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng tới sự sẵn lòng chi trả dịch vụ môi trường rừng và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu về xếp hạng dịch vụ môi trường rừng ngập mặn Một trong những khó khăn mà các nhà xây dựng chính sách về rừng phải đối mặt là làm thế nào để đánh giá và khai thác phù hợp các lợi ích mà rừng ngập mặn cung cấp. Hầu hếu các lợi ích này không thể tiếp cận trực tiếp mà phải thông qua các chỉ số phản ánh tầm quan trọng của chúng đối với phúc lợi con người (Burkhard et al.
Theo Cord et al. (2017), quá trình xây dựng chính sách cần dựa trên nhu cầu và mức độ ưu tiên của các đối tượng liên quan đối với các dịch vụ môi trường rừng, đặc biệt là nguồn lực sử dụng ở các địa phương. Thực tế, người sinh sống trong khu vực có rừng (người dân, hộ gia đình) ít được tham khảo ý kiến trong quá trình hoạch định chính sách quản lý cho đối tượng này (Khan & Phan et al, 2019; Pellett & Walker, 2018; Sandra et al. Do đó, cách tiếp cận từ dưới lên trong quản lý dịch vụ môi trường rừng được khuyến khích đề xuất gần đây (Song & Hu, 2019; Zoderer et al.
Một số nghiên cứu điển hình đã tiến hành đánh giá xếp hạng ưu tiên các dịch vụ môi trường rừng, cụ thể: Mukherjee et al. (2014) dựa trên hệ thống chuyên gia để xếp hạng các dịch vụ môi trường rừng ngập mặn ở quy mô toàn cầu. Tiêu chí xếp hạng các 15 dịch vụ dựa trên giá trị được định giá bằng tiền (từ các tài liệu đã công bố) và ý kiến đánh giá xếp hạng của chuyên gia dựa vào kỹ thuật Delphi. Kết quả cho thấy, hai dịch vụ liên quan tới du lịch sinh thái và nghề cá lần lượt được đánh giá quan trọng thứ nhất và thứ hai về giá trị kinh tế, tiếp theo là dịch vụ bảo vệ bờ biển.
Trong nghiên cứu này, một số dịch vụ môi trường không được đánh giá xếp hạng do thiếu tiêu chí cơ sở để so sánh ngang hàng. Nghiên cứu cũng khuyến nghị các chức năng sinh thái cơ bản của các dịch vụ có thể cần được chú ý thêm trong đánh giá ưu tiên các dịch vụ môi trường. Theo Müller et al. (2020), xếp hạng các dịch vụ môi trường rừng được đánh giá trên cơ sở nhất quán ở phương diện cung và cầu, có sự khác biệt giữa các vùng miền, là cơ sở để triển khai các biện pháp quản lý thay thế.
Nghiên cứu ước lượng giá trị dịch vụ môi trường rừng theo sở thích thông qua thiết kế kịch bản thử nghiệm lựa chọn (choice experiment, CE). Kết quả cho thấy, ở Thụy Sĩ, các nhóm khác nhau đồng thuận về việc chú trọng ưu tiên các dịch vụ bảo tồn môi trường sống, thúc đẩy đa dạng sinh học, cung cấp nước uống, giải trí và lưu trữ carbon trong quản lý rừng. Người làm nghề lâm nghiệp xếp hạng các dịch vụ theo thứ tự ưu tiên giảm dần như sau: Dịch vụ bảo vệ cộng đồng khỏi các hiểm họa tự nhiên, sản xuất gỗ, giải trí, môi trường sống, lọc nước, lưu trữ carbon. Trong khi đó, thứ tự ưu tiên từ trên xuống dưới theo sở thích của người dân nói chung là: Dịch vụ môi trường sống, bảo vệ cộng đồng khỏi các hiểm họa tự nhiên, giải trí, lọc nước, lưu trữ carbon, sản xuất gỗ.
Để xem xét tầm quan trọng của các dịch vụ môi trường cung cấp bởi rừng, cây xanh ở Ba Lan, Patrycja et al. Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể về thứ hạng xếp hạng dịch vụ giữa hai khu vực nông thôn và thành thị. Ở cả hai vùng, nhóm các dịch vụ hỗ trợ môi trường sống và các dịch vụ điều tiết được đánh giá quan trọng hơn so với các dịch vụ cung cấp. Trong đó, ở khu vực đô thị, thứ tự các dịch vụ quan trọng nhất là nơi sống và nguồn thức ăn của động vật, điều hòa độ ẩm không khí và độ ẩm đất, nguồn oxy, tác động tích cực đến sức khỏe và hạnh phúc.
Ở khu vực nông thôn, thứ tự quan trọng giảm dần của 3 dịch vụ hàng đầu là nguồn oxy, thanh lọc không khí và giảm tiếng ồn. 16 Xếp hạng ưu tiên dịch vụ môi trường phụ thuộc vào lợi ích cụ thể của các bên liên quan và chế độ quản lý (Cord et al., 2017; Patela et al. Các thành phần khác nhau trong xã hội có sự ưu tiên khác nhau về mức độ quan trọng của các dịch vụ môi trường rừng (Patrycja et al., 2022; Yuan et al. Nghiên cứu của Maass et al.
(2005) về đánh giá các dịch vụ môi trường rừng nhiệt đới Vùng Chamela, bờ biển Thái Bình Dương, Mexico cũng cho thấy các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của địa điểm nghiên cứu ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tương tác giữa con người và các dịch vụ môi trường rừng cung cấp. Đánh giá xếp hạng dịch vụ môi trường có thể được tiếp cận từ các góc độ khác nhau, tuy nhiên, có ba cách tiếp cận cơ bản nhất là dựa trên sinh thái, kinh tế và xã hội (Groot et al., 2002; Mukherjee et al., 2014; Martín et al. Tiếp cận sinh thái tập trung vào việc đo lường các chức năng sinh thái hoặc đặc tính của dịch vụ môi trường; tiếp cận kinh tế ước tính giá trị sử dụng và không sử dụng của hệ sinh thái dưới dạng tiền tệ; tiếp cận xã hội dựa trên các giá trị mà xã hội gán cho từng dịch vụ môi trường. Tuy nhiên, ranh giới giữa cách tiếp cận kinh tế và xã hội không được phân biệt rõ ràng và các phương pháp ước lượng giá trị kinh tế để đánh giá các ưu tiên xã hội đối với các dịch vụ môi trường dường như phổ biến hơn (Lucia & Comin, 2015).
Trong các trường hợp khác, cách tiếp cận xã hội chỉ được thực hiện để xếp hạng các dịch vụ văn hóa và bỏ qua các dịch vụ còn lại (chẳng hạn như các dịch vụ điều tiết, hỗ trợ và cung cấp) (Newton et al., 2012; Plieninger et al. Điều này được lý giải do sự phức tạp về chuyên môn và yêu cầu về thời gian đáng kể để triển khai trong cách tiếp cận xã hội, đồng thời, còn do sự nhầm lẫn thông thường giữa loại dịch vụ văn hóa của hệ sinh thái tự nhiên và cách tiếp cận xã hội trong đánh giá. Như vậy, việc đánh giá xếp hạng một số dịch vụ môi trường rừng ngập mặn gặp khó khăn do thiếu các chỉ số để ước tính giá trị hoặc các tiêu chí để đánh giá và xếp hạng ngang hàng. Do đó, cần thiết phải bổ sung các phương pháp và thiết lập bộ tiêu chí phù hợp trong xếp hạng các dịch vụ này.
Vấn đề này cũng được khuyến nghị trong nghiên cứu của Mukherjee et al. Thực tế, một số phương pháp khác nhau đã được sử dụng để xếp hạng dịch vụ môi trường rừng như phương pháp phân tích thứ bậc (Patrycja et al., 2022), khảo sát xếp 17 hạng thứ tự trực tiếp (Müller et al., 2020; Pham et al., 2018), kỹ thuật Delphi (Mukherjee et al., 2014)… Gần đây, các phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn có xu thế được lựa chọn nhiều hơn để cung cấp một góc nhìn khác trong việc đánh giá sự ưu tiên đối với các dịch vụ môi trường rừng (Thompson, 2018). Tổng quan các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tới sự sẵn lòng chi trả cho dịch vụ môi trường rừng ngập mặn Các yếu tố tham gia vào mô hình đánh giá sự sẵn lòng chi trả cho dịch vụ môi trường rừng ngập mặn được tập trung thành 03 nhóm: (i) Các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế xã hội; (ii) các yếu tố tâm lý xã hội và (iii) nhóm yếu tố khác. Các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế xã hội Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới sự sẵn lòng chi trả cho dịch vụ môi trường rừng, ban đầu, tập trung chủ yếu vào các đặc tính nhân khẩu học và kinh tế xã hội của người được phỏng vấn (López et al., 2014; Pham et al., 2018; Tuan et al.
Tuy nhiên, kết quả cho thấy các biến số này giải thích một cách không đồng nhất về chiều hướng ảnh hưởng đến biến phụ thuộc (khi so sánh giữa các nghiên cứu) hoặc giải thích một cách hạn chế về mức độ phương sai trong các phép đo về hành vi môi trường, cụ thể: Về độ tuổi, một số nghiên cứu cho thấy khi độ tuổi tăng, sự ưa thích với chi trả cho dịch vụ môi trường cũng được tăng lên (Getachew, 2018; Iqbal, 2020; Obeng & Aguilar, 2021). Điều này được lý giải do những người lớn tuổi có nhận thức về sự thay đổi môi trường và tác động của môi trường theo thời gian rõ rệt hơn. Ngược lại, nghiên cứu của Obeng et al. (2019), Tran et al.
(2017) chỉ ra khi tuổi càng cao sự sẵn lòng chi trả càng giảm đi. Theo đó, khi độ tuổi tăng lên, sự khó khăn về kinh tế và nguồn lực đối với người chi trả cũng tăng dẫn đến ảnh hưởng tới quyết định chi trả của họ. Về giới tính, nghiên cứu của Ariyo et al. (2018), Getachew (2018) và Pham et al.
(2018) chỉ ra nam giới sẵn lòng chi trả số tiền nhiều hơn so với nữ giới do họ thường là người mang lại thu nhập chính trong gia đình. Tuy nhiên, khá nhiều nghiên cứu chứng minh không tồn tại mối quan hệ giữa giới tính và sự sẵn lòng chi trả (Asmare et al., 2022; Iqbal, 2020; Sunoto et al., 2020; State et al. Nghiên cứu của Khuc et al. (2016) đã chứng minh rằng yếu tố tỉ lệ nam nữ trong gia đình ảnh hưởng tiêu cực tới WTP.
18 Về trình độ học vấn, kết quả của một số nghiên cứu chỉ ra người có trình độ học vấn cao thì mức độ nhận thức về tầm quan trọng của dịch vụ môi trường rừng tăng lên và họ sẵn lòng chi trả nhiều hơn (Firdaus et al., 2021; Getachew, 2018; Iqbal, 2020; Khuc et al., 2016; Obeng et al., 2019; Pham et al., 2018; Sachin et al., 2020; Zaiton et al. Phù hợp với luận điểm này, Asmare et al. (2022) chỉ ra người dân sẵn lòng chi trả bảo vệ rừng khi tần suất hoạt động khuyến nông ở khu vực tăng cao, khi có nhiều hơn các lớp đào tạo kiến thức về rừng hoặc khi họ có tham gia hoạt động bảo tồn thiên nhiên. Tuy nhiên, các nghiên cứu của Aguilar et al.
(2018), Bamwesigye et al. (2020b), Sunoto et al. (2020) và Trung et al.