Chương 1. Một số vấn đề lí luận cơ bản về điểm tham quan di tích lịch sử phục vụ khách du lịch. Thực trạng các điểm tham quan di tích lịch sử tại thành phố Huế. Một số kiến nghị và giải pháp đối với các điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa tại thành phố Huế nhằm phát huy các điểm tham quan DTLSVH , thu hút khách du lịch đến với các điểm tham quan DTLSVH, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tại các điểm tham quan DTLSVH phục vụ khách du lịch.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐIỂM THAM QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA PHỤC VỤ KHÁCH DU LỊCH 1. Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa và điểm tham quan du lịch 1. Di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH) Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định, những quan điểm riêng về DTLSVH. Người ta quan niệm rằng: “DTLSVH chứa đựng những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, kiến trúc, mỹ thuật của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.
DTLSVH là tài nguyên nhân văn quý giá được hình thành, bảo tồn, tôn tạo của nhiều thế hệ ở các địa phương, các quốc gia”.[46] Vì vậy nhiều DTLSVH đã trở thành đối tượng tham quan, nghiên cứu, thực hiện các nghi lễ tâm linh của nhiều du khách và là nguồn tài nguyên du lịch quý giá. Có một số khái niệm tiêu biểu sau được xem xét DTLSVH với tư cách là tài nguyên du lịch nhân văn với các giá trị nhân văn vật thể và phi vật thể như sau: Theo đạo luật 16 về di sản lịch sử ban hành ngày 25/06/1985 của Tây Ban Nha: “DTLSVH được gọi là DTLS. DTLS bao gồm các bất động sản và các động sản có lợi ích nghệ thuật, có lợi ích sinh vật học, khảo cổ học, dân tộc học, khoa học hoặc kỹ thuật cũng kể cả di sản tự nhiên và thư mục, các lớp mỏ, các khu vực khảo cổ, các thắng cảnh thiên nhiên, các công viên, các vườn có giá trị nghệ thuật lịch sử hay nhân chủng học”. Theo quy định trong Hiến chương Vơ ni dơ – Italia (1964): “DTLS không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứ tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử.
Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa.” [11] Theo Luật di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kì họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 5 năm 2009: “Di tích lịch sử văn hóa là: - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu 12 z của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kì lịch sử - Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu - Công trình kiến trúc nghệ thuật , quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật. - Danh lam thắng cảnh là: + Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mĩ tiêu biểu + Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lí, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất.” [31] Và theo công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO (1971): “Di sản văn hóa là: 1. Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ học, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học 2. Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan; 3.
Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có một giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mĩ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.” [11] Qua những khái niệm trên về DTLSVH, ta có thể rút ra đặc điểm chung của DTLSVH như sau : DTLSVH là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sáng tạo ra. Và ở một mức độ hẹp hơn có thể thấy rằng DTLSVH là những dấu tích, dấu vết hoạt động của con người trong quá trình lịch sử còn sót lại. 13 z Vậy, với các đặc điểm trên, theo tôi, khái niệm DTLSVH theo Luật Di sản Việt Nam đã phản ảnh đầy đủ các đặc điểm, nội dung và giá trị của DTLSVH và được tác giả lựa chọn nghiên cứu trong luận văn này. Điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa phục vụ du lịch Điểm tham quan và điểm tham quan du lịch có nhiều cách hiểu khác nhau trong lý luận cũng như trong thực tiễn.
Trong thực tiễn điểm tham quan được hiểu như sau: - Mọi địa điểm có tính hấp dẫn, sức thu hút khách đến tham quan, tìm hiểu, giải trí, mua sắm đều được gọi là điểm tham quan. - Điểm tham quan không chỉ dành cho khách du lịch (cả nội địa và quốc tế), mà cả cộng đồng tại địa điểm này. Ví dụ như: các công viên tại thành phố, các viện bảo tàng, các khu vui chơi giải trí, các siêu thị, các nhà hàng,…vv. - Điểm tham quan du lịch dành cho khách du lịch chủ yếu là do sự hấp dẫn của địa điểm nhưng quan trọng nhất vẫn do ý tưởng xây dựng các chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành và nhu cầu của khách du lịch.
Ví dụ: hiện nay các nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng, các bệnh viện, các nhà hát, ngay cả các sân vận động, các trường học cũng trở thành điểm tham quan của khách du lịch. Có thể thấy, điểm tham quan là yếu tố cơ bản và quan trọng cho các doanh nghiệp lữ hành xây dựng các chương trình du lịch đến các điểm đến du lịch, có khả năng kéo dài các chương trình du lịch tại điểm đến đồng thời thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Điểm tham quan du lịch là yếu tố quan trọng trong việc lưu giữ khách và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội tại điểm đến du lich. Trong lý luận, rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này mà chủ yếu các công trinh chủ yếu tập trung vào điểm đến du lịch và sản phẩm du lịch.
Theo Luật Du lịch năm 2005, đã xác định: “Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên du lịch”. [26] Tuy nhiên, trong Luật Du lịch không đưa ra khái niệm về điểm tham quan 14 z mà chỉ nêu khái niệm về điểm du lịch: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”. [26] Luật Du lịch cũng xác định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [26] Theo Luật Du lịch: “Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác” Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.
[26] So với điểm tham quan, điểm du lịch trong Luật Du lịch quy định khác hẳn, đó là: “Điều 24: Điều kiện để được công nhận là điểm du lịch 1. Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch quốc gia: a) Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; b) Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan một năm. Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch địa phương: a) Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; b) Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm [26] 15 z Như vậy, khái niệm về điểm du lịch trong Luật Du lịch khá tương đồng với điểm tham quan trong thực tế. Trong “ Sổ tay Hướng dẫn cấp nhãn du lịch xanh cho điểm tham quan du lịch” của Tổng cục Du lịch cũng đưa ra khái niệm: “Điểm tham quan là nơi có tài nguyên tự nhiên hoặc nhân văn, có các dịch vụ phục vụ khách du lịch, do tổ chức hoặc cá nhân quản lí, gồm: khu vực tham quan, bãi đỗ xe, khu vực vệ sinh công cộng.
Ngoài ra, điểm tham quan du lịch có thể có thêm dịch vụ ăn uống (nhà hàng), dịch vụ mua sắm (cửa hàng mua sắm), đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch.” [5] Từ đó có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát sau: Điểm tham quan là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có kết cấu hạ tầng và các dịch vụ cần thiết để thu hút và phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.