CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Giáo duc di sản và các nghiên cứu ở Việt Nam Ké từ khi “Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới" năm 1972 được Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) thông qua - dau mốc của việc thiết lập những cơ sở pháp lý cần thiết để bảo vệ DSVH, nhiệm vụ giáo dục luôn là một trong những nhiệm vụ tối thượng được Đảng và Nhà nước đặt lên hàng đầu. Cụ thể, bản công ước đã dành một chương để nói về chương trình giáo dục (Educational Programmes).
Điều 27 của công ước viết rằng: “Các Quốc gia Thành viên Công ước, bằng mọi phương tiện thích hợp, và đặc biệt là qua các chương trình giáo dục và thông tin, nâng cao sự tôn trọng của người dân đối với di sản văn hóa và thiên nhiên ”; "cam kết sẽ thông báo kip thời và rộng rãi cho công chúng về những nguy cơ đang đe doa di sản này và các hoạt động thực hiện Công ước". Một lần nữa, trong “Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể” ra đời năm 2003, nhiệm vụ “giáo duc, nâng cao nhận thức và thông tin hướng đến quảng đại công chúng, đặc biệt là thé hệ trẻ”, “giáo duc và đào tạo cụ thể cho cộng đồng và các nhóm người liên quan” vẫn là một trong những nhiệm vụ cấp bách được đặt ra. Di kèm với các quan điểm mạnh mẽ về tầm quan trọng của GDDS, có thé thay UNESCO là tổ chức có các động thái rõ ràng và quyết liệt nhất dé xây dựng các chương trình GDDS cho học sinh phổ thông tại Việt Nam. Năm 2010, Văn phòng UNESCO Hà Nội chính thức tài trợ Dự án "Liên kết với nhà trường phát triển GDDS ở bảo tang, di tích và các điểm văn hóa lịch sử ở Hà Nội" do Trung tâm Nghiên cứu va Phát huy gia tri DSVH trực thuộc Hội Di sản Văn hóa Việt Nam thực hiện.
Dự án được xây dựng nhăm mục đích tạo ra các mô hình thí điểm, trong đó, 10 nhà trường sẽ khai thác các bảo tàng, di tích, điểm đến văn hoá - lịch sử ở Hà Nội phục vụ cho đối tượng học sinh, sinh viên. Cách thức tiếp cận theo đó cũng có sự đôi mới, sáng tạo nhất định. Cụ thể, đi sản thiên nhiên, di tích lịch sử văn hóa, bao tàng, DSVHVT và DSVHPVTT,. sẽ được đưa vào nhà trường dưới nhiều hình thức từ bài giảng chính quy đến giờ học ngoại khóa.
Tới năm 2012, UNESCO tiếp tục có một thử nghiệm khác - dự án đưa phương thức GDDS vào nhà trường và cho học sinh tham quan di sản chùa Láng và Bảo tàng Phụ nữ. Dự án này được đánh giá là bài bản do các chuyên gia về di sản xây dung. Đây cũng là một trong những tác động mau chốt, góp phan thúc day sự ra đời của thông tư liên bộ số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL về việc "Hướng dẫn sử dụng DSVH trong day học ở trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên" do Bộ Giáo duc và Đào tạo cùng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành ngày 16/01/2013. Thông tư này sau đó được thi điểm tại 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam với 3 môn Lịch sử, Địa lý và Âm nhac.
Phương thức tô chức day học các nội dung DSVH trong trường phố thông, trung tâm GDTX được xác định gồm: (1) Lồng ghép nội dung dạy học DSVH vào các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phố thông (nội khóa hoặc ngoại khóa); (2) Xây dựng kế hoạch và tổ chức dạy học, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thé dục thé thao có chủ đề liên quan đến di sản có tính chất điển hình và hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khai thác các nội dung khác của di sản văn hóa thông qua tư liệu, hiện vật; tổ chức chăm sóc di tích, các hoạt động giáo dục tại di tích. Ngay sau khi thông tư này ra đời, nhiều địa phương đã chủ động đưa di sản vào trường học khá thành công như: Bắc Ninh, Nghệ An đưa dân ca vào trường học; Phú Thọ tổ chức cho học sinh tìm hiểu hát xoan; tại Lạng Sơn, học sinh làm quen với đàn tính, hát then. Có thể nói "giáo dục di sản" giờ đây đã trở thành một chiến lược toàn câu bởi văn hóa được Liên Hợp Quôc xác định là một trong ba trụ cột của 11 phát triển bền vững. Tại châu Âu, theo một khảo sát do Eurobarometer thực hiện, được đăng tải chính thức trên trang web của Hội đồng châu Âu (EU), có tới 88% người dân châu Âu đồng ý rang các DSVH châu Âu cần thiết được dạy trong trường học.
Băng cách trực tiếp trải nghiệm hoặc phân tích DSVH, người học sẽ tích lũy được kiến thức, kỹ năng và năng lực tư duy. Trong một nghiên cứu khác về "Tác động của giáo dục DSVH tới thái độ của học sinh với DSVT", hai tác giả Donmez và Yesilbursa đã chỉ tiết các mục đích của GDDS gồm: giúp học sinh khám phá di sản lịch sử và văn hóa, cho phép trẻ có kiến thức và kinh nghiệm thông qua việc khám phá DSVH, giúp trẻ hiểu được sự khác biệt giữa văn hóa địa phương và toàn cầu cùng mối quan hệ giữa chúng, đào tạo công dân tương lai bằng cách giảng dạy về quá khứ, đóng góp vào việc nuôi dưỡng những công dân chân chính và đáng tin cậy. Ké từ năm 2013, khi có hướng dẫn về van đề GDDS trong trường phổ thông đến nay, các học giả cũng dành sự quan tâm đặc biệt tới quá trình thực hiện, lồng ghép nội dung GDDS vào chương trình giáo dục phố thông. Tuy nhiên, các mối quan tâm này xuất hiện nhiều hơn trên các diễn đàn báo chí, hướng tới một số mô hình GDDS ấn tượng như Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hoàng Thành Thăng Long hay thành phố cổ Hội An.
Các nghiên cứu Nhân học về chủ đề này còn khá ít ỏi hoặc lựa chọn hướng tiếp cận từ việc phân loại và định nghĩa các loại hình di sản như nghiên cứu "Di sản và vẫn đề giáo dục di sản cho học sinh trung học phổ thông" của Dương Quỳnh Phương và Đỗ Văn Hao (2019). Hoặc một cách tiếp cận khác, dù không sử dụng khái niệm "giáo dục di sản" nhưng lại mang những nội hàm tương tự, đó là các nghiên cứu về hoạt động giáo dục trải nghiệm tại các bảo tàng, di tích lịch sử. Đơn cử như nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Bài (2017) hay công trình của hai tác giả Phan Phương Anh & Đường Ngọc Hà (2022). Điểm chung của các bài viết, nghiên cứu trên đều khăng định lợi ích và kết quả khả quan của phương pháp giáo dục này.
Mặt khác, các tác giả đều đồng tình rằng quá trình 12 đưa di sản vào trường học đã va đang bộc lộ nhiều bất cập, ton tại những khó khăn nhất định, cần sự đổi mới, kiên trì và đồng thuận từ nhiều phía. Các trường chủ yêu mới sử dụng hình thức ngoại khóa như tham quan di tích lịch sử, tô chức liên hoan văn nghệ dé thé hiện nội dung GDDS trong nhà trường khiến văn hóa chưa thực sự thắm sâu vào tâm trí của các em như những nên tảng tinh thần vững chắc. Một nhận định khác cho rằng: việc tô chức tham quan, học tập trải nghiệm tại di sản vẫn mang tính hình thức “cưỡi ngựa xem hoa”, hầu hết các di tích hay bảo tàng tại Việt Nam chưa có chương trình GDDS hấp dẫn, việc lựa chọn di sản nào để tích hợp vào bai học cũng không phải điều dé dàng (Dương Quỳnh Phương và Đỗ Văn Hảo, 2019). Thực tế, chúng ta mới đang sử dụng di sản trong dạy học ở trường phô thông đối với các môn học: Lich sử, Địa ly, Âm nhạc.
Từ báo cáo đánh giá của các trường, các sở Giáo dục và Đảo tạo cho thấy, hình thức này đang thể hiện sự ưu việt và hoàn toàn có thể mở rộng vận dụng ở các môn học khác (Nguyễn Xuân Trường, 2017). Trong một bài phỏng vấn về chủ đề này, PGS.TS Nguyễn Văn Huy đánh giá về các dự án đưa di sản vào nhà trường "là những người thực hiện chỉ hiểu về DSVH và truyền thống văn hóa ở mức chung chung, theo lối mòn. Chưa kê đến sự tham gia, giám sát của các cơ quan quản lý giáo dục. Bản thân ngành văn hóa chưa thực sự cung cấp đủ thông tin tại các đi sản, di tích và bảo tàng".
Những luận điểm trên là những góc nhìn đa chiều về chương trình GDDS, góp phan giúp tác giả luận văn đánh giá khách quan đối tượng khi thực hiện nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu về Làng VH-DL các dân tộc Việt Nam Là một công trình văn hoá tam cỡ song các nghiên cứu về địa danh này nói chung và chương trình GDDS tại đây lại khá ít ỏi. Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đang tập trung phân tích ở góc độ du lịch học, nặng về mô tả hơn là phân tích, bàn luận. Một số khía cạnh được các tác giả khai thác gồm: thực trạng phát triển hoạt động du lịch (Nguyễn Thị Duyên, 2016), giải pháp 13 thu hút khách du lịch (Nguyễn Huyền Thu, 2017), phát triển sản phâm du lịch (Nguyễn Thị Thanh Hà, 2013).
Có thé thấy, thời điểm các nghiên cứu nay được thực hiện đều sớm hơn thời điểm mục tiêu hoạt động của Làng được bổ sung chức năng giáo dục bên cạnh chức năng khu du lịch tổng hợp vào năm 2018!. Do vậy, chương trình GDDS tại Làng đều không được nhắc tới trong những nghiên cứu trên. Một số khía cạnh khác về Làng VH-DL các dân tộc Việt Nam được các học giả quan tâm và lựa chọn tìm hiểu gồm: bộ máy tô chức và công tác quản lý tại Làng (Lê Ngọc Tuấn, 2016), giải pháp cải thiện khả năng thu hút đầu tư (Nguyễn Sĩ Nông, 2007), bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể vùng Trường Sơn - Tây Nguyên (Bàn Thị Trang, 2019). Điểm chung của những công trình này là tập trung mô tả khá chỉ tiết về mục đích xây dựng, quá trình hình thành và phát triển, quy hoạch xây dựng cũng như bộ máy, cơ chế quản lý tại Làng.
Các tác giả đều có chung quan điểm răng xây dựng và phát triển hoạt động du lịch tại Làng VH - DL các dân tộc Việt Nam là một sự lựa chọn đúng dan dé bảo tồn, khai thác và phát huy văn hóa truyền thống của 54 dân tộc Việt Nam.