phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng. Chƣơng 1: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trong những năm 2001 - 2005. Chƣơng 2: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch trong những năm 2006 - 2010. Chƣơng 3: Nhận xét và kinh nghiệm 14 z Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2005 1.
Nguồn lực phát triển kinh tế du lịch Thanh Hóa và tình hình phát triển kinh tế du lịch Thanh Hóa trƣớc năm 2001 1. Những nguồn lực phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Thanh Hóa 1. Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên Thanh Hóa nằm ở vị trí cầu nối giữa miền Bắc và miền Trung, ở phía Nam vùng Du lịch Bắc Bộ; phía Bắc giáp với các tỉnh Hòa Bình, Sơn La và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và phía Đông giáp biển Đông với đƣờng bờ biển dài 102 km; là một trong 6 tỉnh rộng hàng đầu cả nƣớc với diện tích 11. Thành phố tỉnh lỵ Thanh Hóa cách Thủ đô Hà Nội trên 150Km về phía Bắc.
Thành Hóa có địa hình khá phong phú: miền núi và trung du, miền đồng bằng, miền biển, chứa đựng những tiềm năng về phát triển kinh tế du lịch. Bờ biển Thanh Hóa tƣơng đối bằng phẳng, thuận lợi phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng của tỉnh với những vũng Gầm, vũng Thủy, vũng Biện; các cửa lạch nhƣ Lạch Sung, Lạch Trƣờng, Lạch Hới, Lạch Bạng và Lạch Ghép; các điểm nghỉ mát nổi tiếng nhƣ Sầm Sơn, Hải tiến (Hoằng Hóa), Hải Hòa (Tĩnh Gia). Ngoài khơi vùng biển Thanh Hóa có một số đảo nhỏ nhƣ Hòn Mê, Hòn Nẹ, đảo Nghi Sơn là những điểm đến du lịch hấp dẫn. Ngoài ra, vùng ven biển có nhiều bãi sú, vẹt, các bãi bồi rộng lớn thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản, tạo nguồn thức ăn đặc sản cho 15 z cƣ dân và du khách; thuận lợi cho việc trồng cói phát triển các làng nghề truyền thống, đồng thời cho phát triển du lịch.
Với lãnh hải rộng 1,7 vạn km2, có nhiều bãi cá lớn có giá trị dinh dƣỡng cao nhƣ cá Hồng, cá Mối, cá Phèn., rất nhiều đàn tôm thuộc hệ tôm He ở Việt Nam và trữ lƣợng lớn về Mực, Sứa, Cua, Ghẹ, đặc biệt là ốc Hƣơng hiện đang ƣa chuộng trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế, Thanh Hóa ngày càng trở thành nơi hấp dẫn du khách trong nƣớc và quốc tế. Tài nguyên rừng ở Thanh Hóa chủ yếu là rừng nhiệt đới lá rộng thƣờng xanh quanh năm, có hệ thống thực vật phong phú về loài và họ nhƣ Lát hoa, Giổi, Táu. Trong rừng có nhiều song, mây, tre, nứa. và các dƣợc liệu nhƣ quế, cánh kiến đỏ.
Bên cạnh đó, hệ thống rừng trồng khá phát triển với các loại cây luồng, bạch đàn, phi lao, thông nhựa và nhiều loại cây ăn quả khác. Động vật rừng hiện còn xuất hiện các loại voi, bò, nai, hoẵng, vƣợn, khỉ, lợn rừng. các loại bò sát nhƣ trăn, rắn, kỳ đà,.các loại chim và ong rừng. Khu BTTN Pù Luông thuộc huyện Bá Thƣớc với các vùng rừng tự nhiên quý, hiếm, có hệ sinh thái điển hình với tính năng đa dạng sinh học cao, tồn tại những loại sinh vật đặc hữu có giá trị lớn cho khoa học, tham quan và nghiên cứu.
Cùng với Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Khu Thác Muốn thuộc xã Điền Quang hàng năm có hằng trăm lƣợt khách trong và ngoài tỉnh đến thăm và nghỉ dƣỡng. Vƣờn quốc gia Bến En (huyện Nhƣ Thanh) đƣợc xếp vào một trong mƣời vƣờn quốc gia bảo tồn thiên nhiên quý hiếm của Việt Nam. Thanh Hóa có vùng núi đá vôi với nhiều danh thắng hang động gắn với các truyền thuyết, di tích lịch sử văn hóa hấp dẫn du khách nhƣ động Từ Thức (Nga Sơn), động Long Quang trên núi Hàm Rồng (thành phố Thanh Hóa), động Hồ Công ở Vĩnh Lộc, quần thể hang động ở Tĩnh Gia, động Tiên Sơn (Vĩnh Lộc) - một hang động có quy mô lớn và đẹp, động 16 z Bàn Bù hay còn gọi là Hang Ngán (Ngọc Lặc). Ngoài ra một số hang, động khác nhƣ hang Con Moong (Thạch Thành), động Cây Đăng (Cẩm Thủy), Lò Cao kháng chiến ở khu vực Bến En, hang Phi (động Ma) thuộc huyện Quan Hóa., là những điểm du lịch ngày càng hấp dẫn.
Thanh Hóa còn có một số nguồn nƣớc khoáng xã Xuân Cẩm (Thƣờng Xuân), Thạch Thành, Quan Hóa, Bá Thƣớc, Quảng Yên (Quảng Xƣơng) đây là nguồn tài nguyên hấp dẫn khách du lịch đến nghỉ ngơi, chữa bệnh. Có thể thấy, cảnh quan Thanh Hóa có những lợi thế để phát triển đầy đủ các loại hình du lịch: tắm biển, thể thao nƣớc, leo núi mạo hiểm, đặc biệt là du lịch thăm quan, nghỉ dƣỡng ở miền biển, miền núi, góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế du lịch nói riêng và kinh tế toàn tỉnh nói chung. Tài nguyên du lịch nhân văn Thanh Hóa vốn là một miền đất cổ của Việt Nam, có nền văn hóa lâu đời, phát triển rực rỡ qua nhiều thời đại cho đến ngày nay, nhiều vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa nổi tiếng. Trên địa bàn hiện có hàng nghìn di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có những di tích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhƣ Di tích Thành nhà Hồ, đƣợc xây dựng năm 1397 dƣới triều Hồ Qúy Ly, nay thuộc địa phận xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc; Khu Di tích Lam Kinh thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, là nơi có đền thờ, mộ chí Lê Lợi và điện Lam Kinh đƣợc xây dựng từ năm 1433; Di tích Đông Sơn thuộc phƣờng Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa, là nơi phát hiện nhiều hiện vật quan trọng thuộc thời đại đồng thau và khu mộ cách đây khoảng 3.000 năm, dấu tích về nền văn hóa đầu tiên ở Việt Nam, địa danh Đông Sơn đã đƣợc đặt tên cho nền văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam thời kỳ dựng nƣớc.
Theo số liệu thống kê đến tháng 9 năm 2008, Thanh Hóa có 1.535 di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đƣợc phân bố đều trên phạm vi toàn tỉnh. Trong đó có 135 di tích đƣợc xếp hạng 17 z cấp quốc gia, chiếm 5,25% tổng số di tích xếp hạng quốc gia của cả nƣớc (hiện cả nƣớc có 2.569 di tích đƣợc xếp hạng quốc gia) và 412 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Phần lớn các di tích này tập trung ở vùng đồng bằng và trung du. So với một số tỉnh lân cận, Thanh Hóa nổi lên nhƣ một quần thể di tích lịch sử - văn hóa không những có giá trị đặc trƣng mà còn khá đa dạng về thể loại.
Các di tích lịch sử - văn hóa là một nguồn tài nguyên du lịch quan trọng giữ vai trò thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Thanh Hóa còn là vùng đất của các lễ hội truyền thống, nhiều lễ hội có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử, văn hóa, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục truyền thống yêu nƣớc và khôi phục phát triển những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cổ truyền. Hằng năm, ở khắp các địa phƣơng trên toàn tỉnh đều tổ chức long trọng các lễ hội đặc trƣng của từng địa phƣơng để đáp ứng một phần đời sống tinh thần, tâm linh của ngƣời dân, đồng thời còn để phục vụ mục đích phát triển du lịch. Lễ hội Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng, mang nhiều màu sắc đặc trƣng của từng tập tục, lề thói riêng biệt, hình thành và phát triển theo 3 loại hình nổi trội.
Lễ hội tín ngưỡng: Thƣờng là tín ngƣỡng dân gian, thờ các thần thánh nhƣ thờ thần thành hoàng, thờ mẫu, thờ các thần liên quan đến các hoạt động kinh tế nông - lâm - ngƣ nghiệp… Những lễ hội của nhóm này phải kể đến lễ hội xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa tƣởng niệm ông tổ nghề đúc đồng Khổng Minh Không; lễ hội xã Quảng Cƣ ở Sầm Sơn tƣởng niệm bà Triều - tổ sƣ nghề dệt săm xúc; lễ hội đình Phú Khê xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa - tổ nghề hát… Các lễ hội gắn với tín ngƣỡng thờ mẫu nhƣ lễ hội phố Cát ở Thạch Thành; lễ hội Đền Sòng ở thị xã Bỉm Sơn. Lễ hội văn hóa - lịch sử: Thƣờng gắn với việc tƣởng niệm các nhân vật lịch sử của dân tộc đã có công trong việc đấu tranh, giữ gìn và bảo vệ Tổ quốc nhƣ lễ hội Bà Triệu ở Hậu Lộc; lễ hội Lam Kinh ở Thọ Xuân; lễ 18 z hội Lê Hoàn ở Thọ Xuân… Đây là các lễ hội thƣờng đƣợc tổ chức công phu, quy mô vƣợt ra khỏi phạm vi của tỉnh, có tác dụng thu hút khách du lịch trên phạm vi toàn quốc. Lễ hội dân gian gắn với truyền thuyết: Lễ hội Từ Thức gắn với truyền thuyết Từ Thức gặp Giáng Hƣơng; Lễ hội Mai An Tiêm gắn với truyền thuyết Mai An Tiêm và quả Dƣa đỏ; Lễ hội Thần Độc Cƣớc gắn với truyền thuyết Thần Độc Cƣớc, Hòn Trống Mái ở núi Trƣờng Lệ; Lễ hội gắn với truyền thuyết cửa Thần Phù ở Nga Sơn; Lễ hội gắn với truyền thuyết ông Vồm ở Thiệu Hóa; truyền thuyết Trạng Quỳnh ở Hoằng Hóa. Thanh Hóa cũng là xứ sở của những làn điệu dân ca tha thiết trữ tình nhƣ hò sông Mã, hát xẩm xoan, múa đèn Đông Anh (Đông Sơn), trò diễn Xuân Phả (Thọ Xuân), múa sạp, múa xòe (các dân tộc thiểu số)., có sức hấp dẫn đối với khách du lịch.
Các làng nghề truyền thống: Khai thác các sản phẩm thủ công truyền thống và khôi phục phát triển các làng nghề truyền thống có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế du lịch nói riêng.