Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Dạy học hát ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù cho sinh viên ngành Đại học Sư phạm Âm nhạc" do nghiên cứu sinh Trần Thị Thu Hà thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (2020), thuộc chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc (mã số: 9140111), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Ngọc Lan.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục âm nhạc trong các nhà trường theo hướng tích hợp giữa âm nhạc truyền thống và hiện đại, nhằm giúp thế hệ trẻ vừa tiếp thu nghệ thuật mới vừa bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Khu vực Châu thổ sông Hồng là cái nôi của nhiều thể loại ca hát cổ truyền, trong đó chất liệu Chèo và Ca trù được nhiều nhạc sĩ khai thác trong sáng tác ca khúc mới. Tuy nhiên, trong thực tiễn đào tạo đại học sư phạm âm nhạc, phương pháp giảng dạy thanh nhạc lâu nay thường lấy kỹ thuật Bel canto phương Tây làm khuôn mẫu cho mọi thể loại. Khi thể hiện các ca khúc mang chất liệu Chèo và Ca trù, việc lạm dụng kỹ thuật phương Tây mà thiếu sự kết hợp với kỹ thuật hát dân gian đã dẫn đến nhiều lỗi: phát âm không tròn vành rõ chữ, luyến láy đại khái, hát bạch thanh hoặc dựng âm thanh cộng minh quá mức làm biến dạng ca từ tiếng Việt; nhiều sinh viên bắt chước lối hát của ca sĩ dẫn đến cố tật giọng hát hoặc hỏng giọng.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: chưa có công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về đặc điểm âm nhạc của ca khúc mang chất liệu Chèo và Ca trù; thiếu các công trình giải quyết thấu đáo phương pháp sư phạm kết hợp hài hòa giữa lối hát dân tộc với kỹ thuật thanh nhạc Bel canto trong dạy học cho sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc.

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học hát các ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù cho sinh viên ngành Đại học Sư phạm Âm nhạc.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học hát các ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù cho sinh viên ngành Đại học Sư phạm Âm nhạc.
  2. Nghiên cứu so sánh sự tương đồng, khác biệt giữa lối hát Chèo, Ca trù trong ca hát truyền thống và kỹ thuật thanh nhạc Bel canto phương Tây nhằm xác định những kỹ thuật có thể kết hợp trong dạy học hát các ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù.
  3. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn về dạy học hát các ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù tại một số cơ sở đào tạo Đại học Sư phạm Âm nhạc.
  4. Đề xuất một số biện pháp về dạy học hát ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù cho sinh viên hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc.

Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hát các ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù cho sinh viên ngành Đại học Sư phạm Âm nhạc.
  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa đặc điểm âm nhạc của các ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù với việc dạy học hát; các biện pháp dạy học hát thể loại này cho sinh viên.
  • Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các biện pháp dạy học tích hợp kỹ thuật Bel canto phương Tây và lối hát Chèo, Ca trù cho sinh viên Sư phạm Âm nhạc khu vực Châu thổ sông Hồng. Địa bàn khảo sát và thực nghiệm tại Khoa Nghệ thuật Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Khoa Thanh nhạc Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân tích, tổng thuật các công trình nghiên cứu đi trước theo 4 nhóm vấn đề chính:

  1. Các công trình nghiên cứu về Chèo và Ca trù:
  • Về Chèo: Tác phẩm Ca hát trong Chèo và 150 làn điệu Chèo cổ của Bùi Đức Hạnh phân tích hệ thống làn điệu, kỹ thuật phát âm, lấy hơi, nhả chữ, rung giọng; Thanh điệu tiếng Việt và Âm nhạc cổ truyền của Hoàng Kiều nghiên cứu nhạc luật, điệu thức, cấu trúc thơ - nhạc trong Chèo cổ; Sức sống của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam của Tô Vũ bàn về giai điệu, tiết tấu, điệu thức; Âm nhạc cổ truyền Việt Nam của Nguyễn Thụy Loan; Phương pháp hát tốt tiếng Việt của Trần Ngọc Lan; Giáo trình hát Chèo của Nguyễn Thị Tuyết nghiên cứu kỹ thuật nảy, ngắt, rung, luyến và phương pháp rèn luyện giọng hát Chèo.
  • Về Ca trù: Ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn - Đỗ Trọng Huề khảo cứu thể loại, cách thức diễn xướng; Ca trù nhìn từ nhiều phía (nhiều tác giả) với các bài viết của Nguyễn Xuân Khoát, Ngô Ngọc Linh về tiếng hát, cách hát và tấu độ; Đặc khảo Ca trù Việt Nam (nhiều tác giả) có bài viết của Vũ Nhật Thăng về tiêu chuẩn tiếng hát đào nương, cung điệu và trục âm Ca trù; luận án tiến sĩ Âm nhạc Ca trù ở Hà Nội (2019) của Vũ Hiền Đức phân tích cấu trúc hát nói, hát lót, mô hình phách và các chuyển động giai điệu.
  1. Các nghiên cứu về ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù:
  • Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa của Dương Viết Á; Những ảnh hưởng của âm nhạc Châu Âu trong ca khúc Việt Nam giai đoạn 1930 - 1950 của Vũ Tự Lân; Hợp tuyển tài liệu nghiên cứu - lý luận - phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX (tập 5) với các bài của Lê Lôi, Tú Ngọc, Nguyễn Viêm; Tổng tập Âm nhạc Việt Nam tác giả và tác phẩm (tập 1) với bài viết của Lê Văn Toàn, Nguyễn Thị Minh Châu; bài viết Bàn về chất liệu dân ca của Phan Văn Minh; tác phẩm Bay lên từ truyền thống của Nguyễn Đăng Nghị. Các công trình này phân tích việc khai thác thang âm ngũ cung, âm hình tô điểm, tiết tấu và cấu trúc thơ dân gian vào ca khúc mới.
  1. Các nghiên cứu về phương pháp sư phạm thanh nhạc và dạy hát ca khúc dân gian:
  • Giáo trình thanh nhạc phương Tây: Trường dạy hát của A. Varlamov, Training Soprano Voices của Richard Miller, Phương pháp sư phạm thanh nhạc và Những vấn đề về sư phạm thanh nhạc của Nguyễn Trung Kiên, Phương pháp dạy thanh nhạc của Hồ Mộ La, Giáo trình hát (tập 1, 2) của Ngô Thị Nam.
  • Phương pháp dạy hát ca khúc mang chất liệu dân ca: Phương pháp hát tốt tiếng Việt của Trần Ngọc Lan giải quyết xử lý từ đóng, từ trái dấu, từ điệp; luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Phú (2018) về dạy hát ca khúc mang chất liệu Ca trù tại Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Luận án chỉ ra sự bất đồng quan điểm giữa các nhà nghiên cứu trước đây (như việc Bùi Đức Hạnh cho rằng hát Chèo không dùng giọng giả, trong khi Trần Ngọc Lan, Nguyễn Thị Tuyết và các nghệ sĩ thực hành khẳng định có dùng giọng mé/giả thanh ở nốt cao; hay vấn đề rung giọng bằng âm i hoặc trực tiếp trên ca từ). Luận án đi sâu xây dựng hệ thống giải pháp sư phạm hoàn chỉnh, tích hợp kỹ thuật thanh nhạc phương Tây với kỹ thuật phát âm, nhả chữ, luyến láy cổ truyền cho đối tượng sinh viên Sư phạm Âm nhạc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng Lý thuyết hệ thống của L. von Bertalanffy (hình thành từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX) làm cơ sở lý thuyết chung, nhìn nhận quá trình dạy học hát ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù như một hệ thống hoàn chỉnh gồm nhiều thành tố tương tác: mục tiêu, nội dung, phương pháp, giảng viên, sinh viên, phương tiện và kiểm tra đánh giá, đặt trong mối tương quan với nghệ thuật truyền thống và âm nhạc hiện đại.

Các quan điểm phương pháp luận tiếp cận gồm:

  • Tiếp cận năng lực: Căn cứ vào năng lực cá nhân của sinh viên về chất giọng, nhạc cảm, kỹ thuật xử lý để phát triển năng lực biểu diễn và năng lực dạy học.
  • Tiếp cận tích hợp: Tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, kết hợp lối hát Chèo, Ca trù với kỹ thuật Bel canto.
  • Tiếp cận lịch sử - logic: Kế thừa có chọn lọc các thành tựu nghiên cứu về âm nhạc cổ truyền và thanh nhạc phương Tây.
  • Tiếp cận hoạt động: Nghiên cứu thông qua các hoạt động dạy, học và biểu diễn thực tế của giảng viên, sinh viên, nghệ sĩ.
  • Tiếp cận thực tiễn: Khảo sát thị hiếu âm nhạc và thực trạng đào tạo tại các trường đại học sư phạm để xây dựng giải pháp khả thi.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, phân tích, so sánh, tổng hợp và khái quát hóa tài liệu chuyên môn về thanh nhạc, Chèo, Ca trù và phương pháp dạy học âm nhạc.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Điều tra giáo dục: Sử dụng phiếu hỏi dành cho giảng viên thanh nhạc và sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc.
    • Phỏng vấn/đàm thoại sâu: Phỏng vấn nghệ nhân, nghệ sĩ, ca sĩ chuyên nghiệp về kỹ thuật hát Chèo, Ca trù.
    • Quan sát sư phạm: Dự giờ giảng dạy thanh nhạc, theo dõi các buổi biểu diễn thực tế.
    • Nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục: Phân tích giáo án của giảng viên, video thực hành tiết học của sinh viên.
    • Tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Đúc kết kinh nghiệm từ các nghệ sĩ, chuyên gia thanh nhạc.
    • Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm tại cơ sở đào tạo để kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp.
    • Thống kê toán học: Sử dụng các tham số thống kê để xử lý, kiểm định số liệu định lượng.

Nguồn tư liệu và hệ thống quy chuẩn: Luận án sử dụng thang âm điệu thức 5 âm dựa trên nghiên cứu của Hoàng Kiều (Cung Nam: A - C - D - E - G; Cung Pha: E - G - A - C - D; Cung Huỳnh: C - D - E - G - A; Cung Bắc: G - A - C - D - E; Cung Nao: D - E - G - A - C); ký hiệu nốt nhạc La tinh (C, D, E, F, G, A, H) và dấu hóa theo hệ thống tiếng Đức (is, es, dur, moll).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm công cụ và cơ sở lý luận về thể loại âm nhạc, quá trình dạy học đại học:

  • Khái niệm: Xác định rõ "Ca khúc", "Chất liệu", "Chèo", "Ca trù", từ đó định nghĩa: Ca khúc mang chất liệu Chèo/Ca trù là những ca khúc có cấu trúc âm nhạc hoàn chỉnh, được sáng tác dựa trên việc khai thác các yếu tố âm nhạc đặc trưng của Chèo/Ca trù như giai điệu, tiết tấu, lời ca....
  • Đặc điểm âm nhạc Chèo và Ca trù:
    • Chèo: Cấu trúc theo dạng nói/ngâm/vỉa hoặc theo trổ của làn điệu chính; sử dụng điệu thức 5 âm (nhiều nhất là điệu Nam và Nao theo thống kê của Hoàng Kiều: Nam 77 lần, Nao 65 lần, Huỳnh 27 lần, Bắc 20 lần, Pha 5 lần); âm tô điểm phong phú (âm vỗ, nốt dựa, láy chùm, láy rền); các bước nhảy quãng phổ biến gồm 2T, 3t, 4Đ, 5Đ, 6T, 7t; sử dụng nhiều hư từ (i, a, ới a, dậu mà, thời này) và từ phụ; tiết tấu đặc trưng bởi đảo phách, nghịch phách, nhịp 2/4 và 1/4; sử dụng nhạc lưu không, xuyên tâm.
    • Ca trù: Cấu trúc theo khổ thơ chặt chẽ (đặc biệt trong Hát nói: đủ khổ 11 câu, dôi khổ, thiếu khổ); giai điệu vận động quanh các trục âm cơ bản (a - d1 - a1 - d2), quãng ba trung tính (d1 - f1); xuất hiện nhiều bước nhảy đúp quãng 3t, 4Đ, 5Đ, 7t, 8Đ; kỹ thuật điệp âm (lặp lại cao độ trên nhiều từ); hư từ đặc trưng là ư, hư; tấu độ và nhịp điệu biến đổi linh hoạt, không cố định.
  • Đặc điểm ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù:
    • Cấu trúc: Phổ biến ở dạng 2 đoạn đơn, 3 đoạn đơn (có tái hiện hoặc không tái hiện) và cấu trúc đoạn nhạc. Cấu trúc thường không cân phương do ảnh hưởng của việc mở rộng thơ, chèn từ phụ, hư từ và câu nối (phân tích qua các tác phẩm: Đóng nhanh lúa tốt của Lê Lôi - Huyền Tâm, Tát nước đầu đình của Y Vân, Những cô gái quê hương Quan họ và Trên đỉnh Phù Vân của Phó Đức Phương, Chiều phủ Tây Hồ của Phú Quang, Trăng khuyết của Huy Thục - Phi Tuyết Ba, Sóng đàn Thăng Long của Đức Liên - Trần Chính).
    • Giai điệu và điệu thức: Tồn tại 3 dạng điệu thức: (1) hoàn toàn 5 âm (Hồ trên núi, Tát nước đầu đình); (2) kết hợp 5 âm và 7 âm (Bài ca năm tấn của Nguyễn Văn Tý, Mái đình làng biển của Nguyễn Cường, Một thoáng Tây Hồ của Phó Đức Phương, Đất nước lời ru của Văn Thành Nho); (3) điệu thức 7 âm (Trên đỉnh Phù Vân, Nghe Ca trù trong đêm mưa của Vi Phong, Ngàn năm Thăng Long Hà Nội của Lê Xuân Thọ). Giai điệu ca khúc Chèo có nhiều bước nhảy gấp khúc, nốt hoa mỹ, câu nói đế (Son, Khúc độc thoại Thị Mầu), nhạc lưu không (Đợi, Cấy Chiêm). Giai điệu ca khúc Ca trù có nhiều bước nhảy đúp quãng, luyến đúp xuống ở đuôi câu, điệp âm và ngân dài bằng hư từ ư, hư.
  • Cơ sở lý luận dạy học: Luận giải mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, PPDH, hình thức tổ chức và đánh giá kết quả; phân tích đặc điểm tâm lý, lứa tuổi (18 - 20 tuổi) và đặc điểm giọng hát của sinh viên Sư phạm Âm nhạc.

Chương 2: SO SÁNH LỐI HÁT CHÈO, CA TRÙ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM VÀ KỸ THUẬT THANH NHẠC BEL CANTO PHƯƠNG TÂY

Chương 2 tiến hành so sánh đối chiếu toàn diện giữa hai phong cách ca hát truyền thống và kỹ thuật thanh nhạc phương Tây trên các bình diện kỹ thuật cốt lõi:

Tiêu chí so sánh Lối hát Chèo truyền thống Lối hát Ca trù truyền thống Kỹ thuật thanh nhạc Bel canto
Tiêu chuẩn tiếng hát Vang, to, sáng, tự nhiên, mở khẩu hình bẹt, hát kín miệng, phát âm tròn vành rõ chữ. Vang, rền, nền, nảy; dùng giọng thật; ngậm miệng phát âm "ư" sâu trong cổ họng; đạt các chuẩn: quán, xuyến, dằn, thét, khuôn, rẫy, diệu, vỡi; tránh: lỏi, ngang, cản, chặn, hụt, sa. Âm thanh tròn, sáng, vang đầy, giải phóng cơ thể; âm thanh cộng minh tối đa trong các xoang; hát liền giọng (legato), cắn chữ chuẩn mực.
Hơi thở & Khẩu hình Lấy hơi tự nhiên, đưa hơi nông hoặc kết hợp hơi ngực, hơi cổ, hơi mũi; khẩu hình mở ngang (mở bẹt) như khi nói thường. Nén hơi sâu trong lồng ngực và cổ họng, ém hơi chặt; khẩu hình mở nhỏ, ngậm miệng khi ngân, độ mở dồn về đuôi chữ. Lấy hơi sâu bằng cơ hoành kết hợp ngực dưới (hoành cách mô); khẩu hình mở hình quả trứng (mở dọc), hạ thanh quản mềm mại.
Vị trí âm thanh & Khoảng vang Vị trí âm thanh phía trước nông; khoảng vang chủ yếu ở họng, miệng, mũi; dùng giọng mé (giả thanh) ở nốt cao. Vị trí âm thanh sâu trong họng, vang họng kết hợp vang mũi; tuyệt đối không dùng giọng giả, giữ âm thanh đanh, sắc. Vị trí âm thanh cao, tập trung tại "mặt nạ âm thanh" (masque); khoảng vang tối ưu ở xoang trán, xoang đầu kết hợp vang ngực.
Kỹ thuật hát đặc trưng Rung giọng gẫy khúc, rung nảy hột, luyến láy, vuốt, nảy, ngắt, trượt âm theo thanh điệu tiếng Việt. Hát nảy hạt, đổ hột, rung cổ họng, dằn tiếng, hát thủng thẳng từng tiếng, luyến đúp xuống. Hát legato mượt mà, staccato nảy rõ, portamento lướt âm chuẩn cao độ, chạy thang âm nhanh (coloratura).
Phát âm nhả chữ Khép chữ nhanh ở nguyên âm khép, nhả chữ bám sát 6 thanh điệu tiếng Việt; giữ nguyên âm sắc từ ngữ mộc mạc. Đóng chữ ở đuôi từ chuyển sang âm "ư", "ưng"; phân biệt rạch ròi phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối. Mở rộng nguyên âm chuẩn (a, e, i, o, u); phát âm đồng nhất vị trí âm thanh trên toàn bộ âm vực.

Chương 3: THỰC TRẠNG DẠY HỌC HÁT CA KHÚC MANG CHẤT LIỆU CHÈO, CA TRÙ CHO SINH VIÊN NGÀNH ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC

Chương 3 trình bày kết quả khảo sát thực tế tại Khoa Thanh nhạc (Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương) và Khoa Nghệ thuật (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội):

  • Khảo sát sinh viên: Thống kê năng lực đầu vào và kỹ năng thực tế của sinh viên qua các bảng số liệu: chất giọng (Bảng 3.1), tai nghe âm nhạc (Bảng 3.2), nhạc cảm (Bảng 3.3), khả năng ca hát chung (Bảng 3.4) và khả năng học hát ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù (Bảng 3.5). Kết quả cho thấy đa số sinh viên có chất giọng tự nhiên nhưng chưa đồng đều, kỹ năng xử lý hơi thở và thanh đới còn yếu, gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận bài hát mang âm hưởng dân gian.
  • Khảo sát chương trình và phương pháp của giảng viên: Tỷ lệ đưa ca khúc mang chất liệu dân ca vào giảng dạy còn thấp (Bảng 3.6); phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là truyền khẩu, thị phạm đơn thuần hoặc áp đặt kỹ thuật Bel canto thuần túy (Bảng 3.7). Hiểu biết của giảng viên về đặc điểm âm nhạc, kỹ thuật hát Chèo, Ca trù còn hạn chế (Bảng 3.8); tỷ lệ kết hợp Bel canto với lối hát truyền thống chưa cao (Bảng 3.9); mức độ chú trọng kỹ thuật đặc thù chưa đồng đều (Bảng 3.10).
  • Phương pháp học của sinh viên và các lỗi thường gặp: Khảo sát phương pháp tự học của sinh viên (Bảng 3.11) và thống kê lỗi (Bảng 3.12). Các lỗi phổ biến gồm:
    • Phát âm sai dấu giọng tiếng Việt khi lên cao hoặc xuống thấp.
    • Hát cứng lưỡi, nghẹn họng do cố tạo vang theo kiểu Bel canto nhưng sai kỹ thuật.
    • Không thể hiện được các kỹ thuật nảy hột, rung gẫy khúc của Chèo hay cách nén hơi, nhả chữ đuôi âm ư của Ca trù.
    • Sinh viên tự ý bắt chước lối hát của ca sĩ biểu diễn trên mạng dẫn đến sai lệch phong cách.
  • Thực trạng cơ sở vật chất, phương tiện và hình thức tổ chức: Giờ học thanh nhạc chủ yếu diễn ra theo hình thức cá nhân (1 thầy - 1 trò) hoặc nhóm nhỏ, thiếu các phương tiện trực quan, tư liệu nghe nhìn chuyên sâu về nghệ nhân dân gian.

Chương 4: BIỆN PHÁP DẠY HỌC HÁT CA KHÚC MANG CHẤT LIỆU CHÈO, CA TRÙ CHO SINH VIÊN NGÀNH ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ÂM NHẠC

Chương 4 đề xuất hệ thống 5 biện pháp sư phạm đồng bộ và báo cáo kết quả thực nghiệm:

  1. Xây dựng nội dung chương trình dạy học: Lựa chọn, phân loại và hệ thống hóa danh mục ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù phù hợp với từng năm học và chất giọng sinh viên (từ dễ đến khó, từ bài ngắn, âm vực hẹp đến bài có cấu trúc phức tạp).

  2. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực:

  • Phân loại nhóm sinh viên theo năng lực tiếp nhận và kỹ năng thanh nhạc để áp dụng giáo án phù hợp.
  • Vận dụng các PPDH hiện đại: phương pháp trực quan (sử dụng video, bản thu âm của nghệ nhân), phương pháp phân tích so sánh cấu trúc tác phẩm, phương pháp đàm thoại gợi mở.
  1. Đổi mới phương pháp học và phát huy năng lực tự học của sinh viên: Hướng dẫn sinh viên quy trình tự luyện thanh, tự phân tích ca từ, tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác và phong cách làn điệu gốc trước khi vỡ bài.

  2. Kết hợp lối hát Chèo, Ca trù với kỹ thuật thanh nhạc Bel canto:

  • Trong ca khúc mang chất liệu Chèo: Kết hợp hơi thở sâu của Bel canto với cách nhả chữ mở bẹt tự nhiên của Chèo; ứng dụng vị trí âm thanh cộng minh nhưng giữ nguyên các kỹ thuật luyến, nảy, vuốt, rung nảy hột; xử lý giọng mé ở các nốt cao.
  • Trong ca khúc mang chất liệu Ca trù: Kết hợp điểm tựa hơi thở hoành cách mô với kỹ thuật nén hơi, ém hơi ở cổ họng; giữ cách phát âm dằn tiếng, đổ hột và đóng chữ về đuôi ư, ưng; tích hợp lối hát nói Ca trù (thủng thẳng, đĩnh đạc, rõ dấu giọng) với kỹ thuật nới rộng âm vực của Bel canto.
  • Thể hiện tình cảm và phong cách biểu diễn: Hướng dẫn xử lý sắc thái, biểu cảm khuôn mặt và phong thái trình diễn phù hợp với tính chất tự sự, trữ tình hoặc trào phúng.
  1. Đổi mới kiểm tra đánh giá: Chuyển từ đánh giá thuần túy điểm số bài thi cuối kỳ sang đánh giá quá trình theo tiêu chí năng lực (chuẩn kỹ thuật thanh nhạc, độ chuẩn xác về phong cách dân gian, khả năng cảm thụ và kỹ năng thị phạm sư phạm).

Kết quả thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm được tiến hành trên nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm tại hai cơ sở đào tạo. Kết quả kiểm tra đánh giá được tổng hợp qua Bảng 4.1 (Đánh giá năng lực học tập), Bảng 4.2 (Đánh giá lần 1), Bảng 4.3 (Đánh giá lần 2) và Bảng 4.4 (So sánh kết quả học tập). Kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm áp dụng các biện pháp tích hợp đạt điểm số kỹ thuật, khả năng xử lý bài hát và phong cách biểu diễn cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng học theo phương pháp truyền thống.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận:

  • Mở rộng và làm sâu sắc thêm hệ thống lý luận dạy học ca khúc mang chất liệu dân ca cho sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc.
  • Làm rõ bản chất âm nhạc và các đặc trưng thi pháp âm nhạc trong ca khúc mang chất liệu Chèo và Ca trù (thang âm ngũ cung, điệp âm, bước nhảy đúp, cấu trúc thơ - nhạc).
  • Bổ sung vào lý luận sư phạm thanh nhạc cơ sở khoa học của việc kết hợp kỹ thuật thanh nhạc Bel canto phương Tây với nghệ thuật ca hát cổ truyền Việt Nam.

Đóng góp về thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng dạy và học ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù tại các trường đại học sư phạm nghệ thuật trọng điểm.
  • Xác lập bảng đối chiếu kỹ thuật chi tiết giữa lối hát Chèo, Ca trù và kỹ thuật Bel canto, giúp giảng viên và sinh viên nhận diện rõ ràng cơ chế phát âm, khẩu hình, khoảng vang để áp dụng linh hoạt.
  • Đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm mang tính thực tiễn cao, kèm theo khung chương trình và danh mục bài tập thực hành, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên âm nhạc tương lai.

Kiến nghị của luận án:

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ sở đào tạo: Cần chuẩn hóa chương trình thanh nhạc ngành Sư phạm Âm nhạc, tăng thời lượng cho mảng ca khúc mang chất liệu dân ca; tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng về âm nhạc cổ truyền cho giảng viên thanh nhạc.
  • Đối với giảng viên và sinh viên: Giảng viên cần chủ động nghiên cứu vốn âm nhạc dân tộc, tránh rập khuôn kỹ thuật phương Tây; sinh viên cần nâng cao ý thức tự học, tìm hiểu sâu về nghệ thuật diễn xướng dân gian.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế: Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, các khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của luận án mới chỉ tập trung tại 2 cơ sở đào tạo ở khu vực Châu thổ sông Hồng (Khoa Nghệ thuật Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Khoa Thanh nhạc Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương), trên phạm vi chất liệu Chèo và Ca trù.

Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu và ứng dụng phương pháp dạy học tích hợp cho các thể loại ca khúc mang chất liệu dân ca của các vùng miền khác (Quan họ, Xẩm, Xoan, Ca Huế, Dân ca Nam Bộ...) tại nhiều cơ sở đào tạo giáo viên âm nhạc trên toàn quốc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:

  • Giảng viên thanh nhạc tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm và cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật: Tham khảo khung đối chiếu kỹ thuật thanh nhạc và quy trình các biện pháp tích hợp để giảng dạy ca khúc dân gian.
  • Sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc: Sử dụng làm tài liệu tự học, rèn luyện kỹ thuật nhả chữ, luyến láy và làm phong phú vốn bài hát phục vụ công tác giảng dạy âm nhạc tại trường phổ thông sau khi tốt nghiệp.
  • Các nhà nghiên cứu phương pháp dạy học âm nhạc và chuyên gia xây dựng chương trình: Tham khảo cơ sở lý luận về tiếp cận năng lực và phương pháp tích hợp trong giáo dục nghệ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng hệ thống thang âm 5 âm nào làm chuẩn để phân tích giai điệu Chèo và Ca trù?
Luận án căn cứ vào công trình nghiên cứu của Hoàng Kiều (Thanh điệu tiếng Việt và Âm nhạc cổ truyền), sử dụng 5 cung điệu thức 5 âm chuẩn gồm: Cung Nam (A - C - D - E - G), Cung Pha (E - G - A - C - D), Cung Huỳnh (C - D - E - G - A), Cung Bắc (G - A - C - D - E) và Cung Nao (D - E - G - A - C).

2. Điểm khác biệt lớn nhất giữa kỹ thuật lấy hơi, khẩu hình của Bel canto và lối hát Chèo, Ca trù là gì?
Bel canto yêu cầu lấy hơi sâu bằng cơ hoành kết hợp ngực dưới, khẩu hình mở dọc (hình quả trứng), hạ thanh quản để tạo khoảng vang xoang đầu tối đa. Ngược lại, hát Chèo mở khẩu hình bẹt tự nhiên như nói, lấy hơi nông hơn; hát Ca trù ém nén hơi chặt trong họng, khẩu hình mở nhỏ, ngậm miệng ngân âm ư sâu trong cổ.

3. Giai điệu trong ca khúc mang chất liệu Ca trù có những đặc trưng nào nổi bật?
Ca khúc mang chất liệu Ca trù nổi bật với kỹ thuật điệp âm (lặp lại cao độ trên nhiều từ), các bước nhảy đúp quãng (đặc biệt là 3t, 4Đ, 5Đ, 7t, 8Đ), luyến đúp xuống ở cuối câu, sử dụng hư từ ư, hư để nối câu hoặc ngân dài, và tiết tấu có đoạn ngâm ngợi tự do hoặc đảo phách luân chuyển qua các ô nhịp.

4. Luận án đề xuất giải quyết mâu thuẫn giữa kỹ thuật mở họng Bel canto và cách nhả chữ tiếng Việt trong ca khúc dân gian như thế nào?
Tác giả đề xuất biện pháp kết hợp: vận dụng điểm tựa hơi thở sâu và khoảng vang cộng minh của Bel canto để mở rộng âm vực và làm dày tiếng hát, nhưng khi phát âm nhả chữ phải bám sát cơ chế mở bẹt tự nhiên (đối với chất liệu Chèo) hoặc khép đuôi chữ sang âm ư, ưng (đối với chất liệu Ca trù), giữ đúng 6 thanh điệu tiếng Việt và vận dụng kỹ thuật giọng mé ở nốt cao thay vì hát dựng tiếng hoàn toàn.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trần Thị Thu Hà đã giải quyết toàn diện vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy học hát ca khúc mang chất liệu Chèo, Ca trù cho sinh viên ngành Đại học Sư phạm Âm nhạc. Tác giả đã làm rõ các đặc trưng âm nhạc của hai dòng ca khúc này, xây dựng bảng so sánh khoa học giữa lối hát truyền thống và kỹ thuật thanh nhạc Bel canto. Hệ thống biện pháp dạy học tích hợp theo định hướng tiếp cận năng lực được chứng minh có tính khả thi và hiệu quả qua thực nghiệm sư phạm. Công trình góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên âm nhạc và thúc đẩy công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản âm nhạc dân tộc trong nhà trường.