ĐẶT VẤN ĐỀ Bại não là thuật ngữ chỉ một nhóm những rối loạn của hệ thần kinh trung ƣơng do tổn thƣơng não không tiến triển gây ra. Bại não gây nên đa tàn tật về vận động, trí tuệ, giác quan và hành vi, thƣờng xảy ra trong thời kỳ phát triển thai nhi, trƣớc, trong và sau khi sinh cho đến năm tuổi. Các rối loạn về vận động gây trở ngại nhiều nhất cho trẻ trong sinh hoạt tối thiểu hàng ngày. Trẻ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Do đó, phục hồi chức năng (PHCN) vận động cho trẻ là vấn đề hết sức cần thiết. Trên thế giới, theo thống kê những năm gần đây cho thấy bại não chiếm tỷ lệ 1,5 - 4/1000 trẻ sơ sinh sống [35], [36], [55], [62], [65] Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ bại não ở trẻ dƣới 8 tuổi là 3,6/1000 trẻ sơ sinh sống [70], và hàng năm có khoảng 500.000 trẻ mắc bại não, chiếm tỷ lệ 0,2% tổng số trẻ [37]. Ở Việt Nam, chƣa có số liệu điều tra quốc gia về tỷ lệ hiện mắc bại não, nhƣng theo thống kê trên thì có khoảng 125.000 trẻ em Việt Nam mắc bệnh này. Việc phục hồi chức năng vận động cho trẻ còn gặp rất nhiều khó khăn.
Y học hiện đại (YHHĐ) và Y học cổ truyền (YHCT) đều tìm các phƣơng pháp điều trị với hiệu quả tối ƣu cho trẻ bại não. Tuy nhiên, việc phối hợp điều trị của YHCT và YHHĐ tỏ ra có vai trò tích cực và mang lại kết quả khả quan. Trong những năm gần đây, số lƣợng trẻ bại não đến điều trị tại Bệnh viện Châm cứu Trung ƣơng (BVCCTW) ngày càng tăng. Theo số liệu thống kê năm 1998, tại khoa Nhi, số trẻ mắc bại não là 394 trẻ (chiếm 25,7% tổng số bệnh nhi).
Năm 2002, con số này lên đến 912 trẻ, tăng gần gấp 3 lần so với năm 1998 (chiếm 47,3% tổng số bệnh nhi) [28], đến năm 2015 tổng số trẻ điều trị bại não tại khoa Nhi là 1.743 trẻ chiếm 74,61% tổng số bệnh nhi nằm viện. Trong đó, bệnh nhi thể co cứng chiếm tỷ lệ cao nhất (60 - 70% tổng số trẻ bại não) [23]. Theo y học cổ truyền cũng có nhiều nghiên cứu về các phƣơng pháp không dùng thuốc để phục hồi chức năng vận động cho trẻ bại não. Các phƣơng pháp đã sử dụng 2 nhƣ: xoa bóp bấm huyệt (XBBH), hào châm, điện châm, điện mãng châm, thủy châm,… Điện châm là phƣơng pháp kích thích huyệt bằng một dòng điện nhất định để phòng bệnh và chữa bệnh, bằng cách sử dụng một máy điện tử tạo xung điện ở tần số thấp.
Phục hồi chức năng cho trẻ bại não bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó PHCN về vận động là lĩnh vực đóng một vai trò chính yếu đối với sự phát triển của trẻ bại não. Việc tạo dựng khả năng vận động đúng đắn cho trẻ phát triển và làm cơ sở nền tảng cho những khả năng khác (nói, học, viết.) là một vấn đề quan trọng. Có rất nhiều phƣơng pháp PHCN về vận động cho trẻ bại não nhƣ: tập vận động thụ động, tập các hoạt động chức năng [5]. Các kỹ thuật tạo thuận vận động (KTTTVĐ) là hệ thống các bài tập có rất nhiều ƣu điểm, đang đƣợc áp dụng tại một số trung tâm điều trị trẻ bại não, trong đó bệnh viện châm cứu trung ƣơng (BVCCTW) đã kết hợp kỹ thuật tạo thuận vận động với các phƣơng pháp phục hồi chức năng vận động của y học cổ truyền và đem lại hiệu quả rất đáng ghi nhận.
Tuy nhiên, từ trƣớc tới nay chƣa thấy có nghiến cứu nào tiến hành đánh giá hiệu quả của kỹ thuật tạo thuận vận động kết hợp với các phƣơng pháp phục hồi chức năng vận động không dùng thuốc của y học cổ truyền mà bệnh viện châm cứu trung ƣơng đang thực hiện. Xuất phát từ thực tế trên, với mong muốn nâng cao hiệu quả phục hồi vận động cho trẻ, giúp trẻ sớm hòa nhập với gia đình và xã hội, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động cho trẻ bại não thể can thận hƣ bằng một số phƣơng pháp không dùng thuốc y học cổ truyền kết hợp với kỹ thuật tạo thuận vận động”. 3 Với hai mục tiêu: 1. Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động cho trẻ bại não thể can thận hư bằng kỹ thuật tạo thuận vận động kết hợp xoa bóp, bấm huyệt, điện châm, thủy châm.
Khảo sát một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị và theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH MẮC BỆNH BẠI NÃO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Trên thế giới Tại các nƣớc phát triển: - Anh là nơi có nhiều nghiên cứu dịch tễ học bại não nhất và tỷ lệ cũng rất khác nhau giữa các nghiên cứu từ 0,8 - 4,16/1000 ngƣời từ 0 - 20 tuổi, trong đó bại não mắc phải chiếm 10 - 13% [58].
- Tại Đan Mạch, tỷ lệ bại não trên trẻ đẻ sống là 1,4 - 2,6/1000 không tính bại não mắc phải [60]. - Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ bại não là 3,6/1000 trẻ dƣới 8 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 1,4/1 [70]. Tỷ lệ bại não đƣợc chấp nhận chung tại các nƣớc phát triển là 2,0 - 2,5/1000 trẻ đẻ sống trong đó khoảng 10 - 15% là bại não mắc phải [57]. Tại các nƣớc đang phát triển: - Tỷ lệ bại não tại vùng Kashmir, Ấn Độ là 1,46/1000 trẻ đẻ dƣới 14 tuổi [60].
- Tại Thổ Nhĩ Kỳ, số trẻ bại não chiếm khoảng 7% tổng số trẻ mắc các rối loạn thần kinh và tỷ lệ bại não là 5,6/1000 trẻ 0 - 5 tuổi [54]. - Tỷ lệ bại não tại Trung Quốc là 1,6/1000 trẻ 7 tuổi [47].2 Tại Việt Nam - Tỷ lệ trẻ bại não đƣợc điều trị tại khoa hoặc các trung tâm phục hồi chức năng tuyến tỉnh và trung ƣơng rất cao từ 30 - 74% (Trần Thị Thu Hà, 2002 [6]). - Hoàng Trung Thông (2001) nghiên cứu tình hình trẻ bại não tại tỉnh Khánh Hòa cho thấy tỷ lệ hiện mắc bại não tại đây là 0,6/1000 dân [26]. - Nguyễn Thị Minh Thủy (2001) nghiên cứu tình hình trẻ bại não tại tỉnh Hà Tây cho thấy tỷ lệ mắc bại não tại đây là 1,5/1000 dân [29].
- Tỷ lệ nam/nữ mắc bại não trung bình là 1,05 - 1,5 tƣơng đƣơng tỷ số 1,2 tại Ả-rập-xê-út [6].2 QUAN NIỆM CỦA Y HỌC HIỆN ĐẠI VỀ BẠI NÃO 1.1 Định nghĩa bại não Bại não là một thuật ngữ trung mô tả “một nhóm các rối loạn vĩnh viễn về phát triển vận động và tƣ thế, gây ra các giới hạn về hoạt động do những rối loạn không tiến triển xảy ra trong não bào thai hoặc giai đoạn não ở trẻ đang phát triển. Các rối loạn vận động của bại não thƣờng kèm theo những rối loạn về cảm giác, nhận giác, nhận thức, giao tiếp và hành vi, với động kinh, với các vấn đề cơ xƣơng thứ phát” (Rosenbaum và công sự, 2007) [2] Định nghĩa cũng đƣợc dùng để chẩn đoán xác định bại não trong nghiên cứu này.2 Phân loại trẻ bại não Có hai hệ thống phân loại bại não đƣợc đề cập đến trong các nghiên cứu bại não từ trƣớc đến nay. Đó là phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới và phân loại thông thƣờng đƣợc các nhà chuyên môn về bại não đƣa ra. - Phân loại Quốc tế về bệnh tật (ICD-10 - International Classification of Diseases) (2010): Bại não thuộc chƣơng 6 - Mã hóa từ G80 đến G83 [68].
- Phân loại về tàn tật (ICIDH - International Classification of Impairment, Disability and Handicapped) [67]: + Phân loại Quốc tế theo khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật: là bảng phân loại đƣợc Tổ chức Y tế Thế giới đƣa ra năm 1980 đƣợc triển khai áp dụng rộng rãi trong chƣơng trình phục hồi chức năng cộng đồng. + Phân loại Quốc tế theo chức năng, giảm khả năng và sức khỏe (ICF - International Classification of Functioning, Disability and Health): Tổ chức Y tế Thế giới đƣa ra năm 2001 và đang đƣợc triển khai áp dụng.1 Phân loại bại não theo thể lâm sàng: Theo tài liệu số 10 Phục hồi chức năng cho trẻ bại não, “Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng ”[3]. - Thể co cứng Có các dấu hiệu sau + Tăng trương lực cơ - Khi ta vận động thụ động tại các khớp trẻ chống lại mạnh. 6 - Các cơ cứng gồng mạnh khiến trẻ vận động khó khăn.
+ Giảm cơ lực: Yếu các cơ nâng cổ, thân mình ( đầu cổ gục, lƣng còng ),cơ gấp mu bàn tay (bàn tay gập mặt lòng ), cơ gập mu bàn chân(bàn chân thuổng)… + Mẫu vận động bất thường : Hay gập khuỷu, gập lòng bàn tay, khép vai, khép ngón cái , sấp cẳng tay, bàn chân duỗi cứng, duỗi hoặc gấp khớp gối mạnh. Khi trẻ vận động chủ động thì tứ chi đều tham gia chuyển động thành một khối (vận động khối). + Các dấu hiệu khác: Rung giật cơ (khi gập mu bàn chân nhanh thấy co giật cơ gân gót). Co rút cơ (trẻ bị khép háng, gập gối, gập lòng bàn chân …mạnh) - Thể múa vờn.
Có các dấu hiệu sau + Trương lực cơ luôn thay đổi: Ngƣời trẻ lúc gồng cứng, lúc mềm, lúc bình thƣờng. + Vận động vô ý thức: Thăng bằng đầu cổ kém: Đầu lúc giữ thẳng lúc gục xuống, hoặc quay hai bên liên tục. Ngón tay – ngón chân cử động ngoằn ngoèo liên tục nên trẻ khó với cầm đồ vật. Môi – hàm vận động liên tục, lƣỡi hay thè ra, có thể có rung giật các chi.
+Dấu hiệu khác: Chảy nhiều nƣớc rãi, có thể bị điếc ở tần số cao. - Thể thất điều Có các dấu hiệu sau + Trương lực cơ giảm toàn thân + Rối loạn điều phối vận động hữu ý - Kiểm soát thăng bằng đầu cổ, thân mình kém. - Hai tay vận động quá tầm, rối tầm, không thực hiện đƣợc động tác tinh vi - Thăng bằng khi ngồi, đứng, đi kém. - Đi lại nhƣ ngƣời say rƣợu - Thể mềm nhẽo Có các dấu hiệu sau 7 + Trương lực cơ toàn thân: Toàn thân mềm nhẽo, cơ lực yếu.
+ Vận động: Trẻ ít cử động tay chân, luôn nằm yên trên giƣờng. + Phản xạ gân xương bình thường hoặc tăng nhẹ: (khác với bệnh cơ) Tuy nhiên, một số thầy thuốc lâm sàng cho rằng thể nhẽo không thuộc thể nào của bại não, nhƣng nó sẽ là dấu hiệu của trạng thái mà sau đó sẽ chuyển thành bại não, thƣờng sẽ chuyển thành thể co cứng hoặc thể rối loạn điều phối.