Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm, triệu chứng và các tổn thương giải phẫu của CTSN. CTSN là gì? CTSN là những thương tích tại hộp sọ và/hoặc cấu trúc bên trong sọ. Có thể có tác động rộng lớn về thể chất và tâm lý.
Một số dấu hiệu có thể xuất hiện ngay sau khi chấn thương, trong khi những dấu hiệu khác có thể xuất hiện vài ngày hoặc vài tuần sau đó[43]. Triệu chứng CTSN[23] * Triệu chứng CTSN nhẹ Các dấu hiệu và triệu chứng của CTSN nhẹ có thể bao gồm: - Mất ý thức trong vài giây đến vài phút. - Không mất ý thức, nhưng choáng váng, bối rối hoặc mất phương hướng. - Buồn nôn hoặc nôn.
- Mệt mỏi hoặc buồn ngủ. - Khó khăn về lời nói. - Khó ngủ hoặc ngủ nhiều hơn bình thường. - Chóng mặt hoặc mất thăng bằng.
- Các vấn đề về cảm giác, như mờ mắt, ù tai, cảm thấy mùi vị khó chịu trong miệng hoặc thay đổi khả năng ngửi. - Nhạy cảm với ánh sáng hoặc âm thanh. - Thay đổi tâm trạng. - Cảm thấy chán nản hay lo lắng.
* Triệu chứng CTSN từ trung bình đến nặng. CTSN nặng và trung bình có thể bao gồm bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng nào của chấn thương nhẹ. Các triệu chứng này có thể xuất hiện trong vài giờ đầu đến vài ngày sau chấn thương đầu: - Mất ý thức từ vài phút đến vài giờ Thư viện Đại học Thăng Long 4 - Nhức đầu dai dẳng - Nhiều lần bị nôn hoặc buồn nôn - Co giật - Chất lỏng trong suốt chảy ra từ mũi hoặc tai - Không tự thức dậy từ khi ngủ - Yếu hoặc tê ở ngón tay và ngón chân - Mất khả năng phối hợp tay chân - Nhầm lẫn - Kích động, muốn đánh nhau hoặc hành vi bất thường khác - Nói lắp - Hôn mê và các rối loạn ý thức khác 1. Các tổn thương giải phẫu của CTSN Một NB bị CTSN có thể gặp một hoặc nhiều tổn thương kết hợp sau: - Tụ máu dưới da đầu - Vết thương rách lóc da đầu - Chấn động não (CĐN) - Xuất huyết dưới nhện (XHDN) - Nứt sọ, lún sọ, tụ khí nội sọ - Vết thương sọ não (VTSN) - Máu tụ ngoài màng cứng (MTNMC) - Máu tụ dưới màng cứng (MTDMC) - Máu tụ trong não - Dập não - Xuất huyết quanh thân não - Tổn thương sợi trục lan tỏa 1.
Nguyên nhân gây nên CTSN. CTSN thường được gây ra bởi một cú đánh hoặc các loại chấn thương khác vào đầu hoặc cơ thể. Mức độ chấn thương có thể phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm bản chất của loại chấn thương và lực tác động[41]. 5 Các nguyên nhân phổ biến gây CTSN bao gồm: - TNGT: Va chạm liên quan đến ô tô, xe máy hoặc xe đạp và người đi bộ là những nguyên nhân phổ biến của CTSN.
- TNSH: như ngã cao/cầu thang, đánh nhau… - TNLĐ: sảy ra trong quá trình lao động sản xuất - Khác: do bạo lực, các vụ nổ, các hoạt động trong thể thao…[45] 1. Học thuyết điều dưỡng áp dụng trong nghiên cứu Học thuyết của Henderson Virgina Henderson định nghĩa Điều dưỡng là “hỗ trợ các cá nhân đau ốm hay khỏe mạnh bằng việc tiến hành các hoạt động nhằm đem đến sự khỏe mạnh, phục hồi sức khỏe hoặc cái chết thanh thản mà một cá nhân muốn tiến hành khi cần thiết về sức khỏe, ý nguyện và kiến thức [38]. Henderson sắp xếp 14 nhóm nhu cầu cơ bản bao gồm: các hiện tượng về sinh lý, tinh thần, văn hóa xã hội; tâm linh và phát triển. Điều dưỡng và người bệnh làm việc cùng với nhau để đạt được các nhu cầu này.
Thành phần của nhu cầu cơ bản của người bệnh gồm 14 yếu tố: 1. Ðáp ứng các nhu cầu về hô hấp: Đây là nhu cầu cơ bản nhất của con người. Hô hấp chính là dấu hiệu của sự sống. Với một Điều dưỡng viên, họ có nhiệm vụ phải xác định sự hô hấp của bệnh nhân có bất thường hay không.
Nếu thở bình thường tần số sẽ là 16-20 lần/ phút, nhịp thở đều đặn qua mũi, thở êm. Giúp đỡ bệnh nhân về ăn, uống và dinh dưỡng: Người bệnh vốn có hệ miễn dịch yếu nên cần thức ăn phải an toàn và phù hợp tình trạng bệnh. Với người không thể ăn qua đường miệng, Điều dưỡng cần giữ ăn toàn khi cho họ ăn qua sonde hoặc truyền dịch 3. Giúp đỡ bệnh nhân trong sự bài tiết: Quá trình chăm sóc bệnh nhân đặc biệt người bệnh nặng cần được tiến hành sạch sẽ, an toàn và không gây ành hưởng đến môi trường, bản thân.
Điều dưỡng phải biết quản lý dịch tiết, xử lý chất thải đúng nơi quy định, sử dụng dung dịch sát trùng để không làm lây nhiễm xung quanh Thư viện Đại học Thăng Long 6 4. Giúp đỡ bệnh nhân về tư thế, vận động và tập luyện: Vì tình trạng bệnh lý mà có nhiều bệnh nhân không thể tự mình đi lại, ngồi đứng hay vận động cơ thể. Trường hợp này Điều dưỡng phải cẩn thận chêm lót đệm để vết thương tránh bị tì, đè. Ngoài ra, luôn giữ cho người bệnh ngồi thẳng lưng, nếu có nhu cầu đi lại thì trợ giúp bằng nạng hoặc xe đẩy.
Ðáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ ngơi: Bên cạnh việc điều trị bằng thuốc, chế độ vận động, nghỉ ngơi hợp lý cũng giúp ích rất nhiều cho quá trình lành bệnh. Điều dưỡng phải chú ý đến giờ thăm nuôi, sinh hoạt của người bệnh để nhắc nhở người nhà tuân thủ. Ngoài ra, phải lưu ý đến vệ sinh môi trường ngủ nghỉ của bệnh nhân luôn sạch sẽ, thoáng mát. Giúp bệnh nhân mặc và thay quần áo: Trang phục cho bệnh nhân mặc cần phù hợp thời tiết, mùa hè phải rộng rãi, thoáng mát, mùa đông cần giữ ấm.
Đặc biệt, Điều dưỡng chú ý, chọn quần áo không cản trở hô hấp, tuần hoàn, vệ sinh và vận động đi lại. Giúp bệnh nhân duy trì thân nhiệt: Điều dưỡng viên khi phát hiện người bệnh có thân nhiệt không bình thường phải nhanh chóng áp dụng biện pháp phù hợp. Cụ thể, nếu thân nhiệt cao cần theo dõi nhiệt độ và mạch, nhanh chóng cởi bớt quần áo, lau mát cơ thể, dùng thuốc hạ sốt, truyền dịch… 8. Giúp bệnh nhân vệ sinh cá nhân hàng ngày: Vệ sinh cá nhân là một trong những nhu cầu cơ bản nhất của con người.
Tuy nhiên, với những bệnh nhân nặng không thể tự thực hiện, điều dưỡng viên sẽ là người đáp ứng nhu cầu này của họ. Giúp bệnh nhân tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện: Để giữ an toàn cho người bệnh, phòng ở và nhà vệ sinh cần được giữ sạch sẽ, không trơn trượt, dễ ngã. Ngoài ra, cần cách ly các bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm, tránh hiện tượng lây nhiễm chéo trong bệnh viện. Giúp bệnh nhân trong sự giao tiếp: Điều dưỡng cần tạo điều kiện cho người bệnh được trao đổi, trò chuyện với các bệnh nhân xung quanh giúp giải toả tinh thần, góp phần mang lại hiệu quả điều trị bệnh.
Giúp bệnh nhân thoái mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng: tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc sống mỗi người. Điều dưỡng viên hãy tôn trọng tín ngưỡng của người bệnh, tạo điều kiện để họ được thoã mãn niềm tin tín ngưỡng của mình, nhất là với bệnh nhân giai đoạn cuối. Giúp bệnh nhân lao động, làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là người vô dụng: Nhu cầu lao động ở đây nghĩa là vận động thân thể trong khả năng của mình. Càng ít vận động thì con người càng uể oải, thất vọng.
Do vậy, hãy động viên, hỗ trợ họ vận động di chuyển trong phạm vi cho phép để họ không càm thấy mình vô dụng và hòa nhập hơn với xã hội. Giúp bệnh nhân trong các hoạt động vui chơi, giải trí: Tinh thần thoải mái luôn là liều thuốc bổ quý giá và mạnh mẽ nhất trong mọi hoàn cảnh. Điều dưỡng viên có thể cung cấp sách, báo, radio hoặc các phương tiện giải trí để bệnh nhân thoải mái tinh thần khi ở viện. Giúp bệnh nhân có kiến thức về y học: Người bệnh nào cũng có nhu cầu hiểu biết về bệnh tình của họ, về cách chữa trị, khả năng phục hồi, chế độ ăn uống phù hợp để tự phối hợp trong quá trình điều trị.
Việc tìm hiểu và đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh sẽ giúp cho người bệnh hồi phục tốt và cải thiện chất lượng cuộc sống. Điều trị và chăm sóc người bệnh CTSN [30], [16] 1. Phương pháp điều trị Điều trị CTSN nhằm đạt tới hai mục tiêu quan trọng: - Điều chỉnh áp lực trong sọ (ICP = IntraCranial Pressure). - Điều chỉnh áp lực tưới máu não (CPP = Cerebral Perfusion Pressure).
Phương pháp hiệu quả nhất là loại bỏ khối máu tụ trong sọ hoặc dẫn lưu dịch não tuỷ hoặc mở rộng hộp sọ để giải áp. Điều quan trọng là phải duy trì áp lực trong sọ dưới 15mmHg (theo Marshall, 1980); còn theo tác giả Miller, 1981 cho rằng tỉ lệ tử vong cao khi áp lực trong sọ vượt quá 20mmHg. Phải cân bằng áp lực trong sọ và đảm bảo được áp lực tưới máu não luôn > 70mmHg cũng như phối hợp với nhiều phương pháp khác để bảo vệ bộ não. Thời gian vàng là một Thư viện Đại học Thăng Long 8 tiêu chuẩn cấp thiết không phải để cứu sống người bị CTSN mà còn làm cho chất lượng sống luôn được tốt hơn.
Điều trị nội khoa - Giảm áp lực trong sọ - Giữ thông số tưới máu não luôn bình thường (> 70 mmHg) - Gây ngủ bằng Barbiturate hoặc Propofol - Dung dịch ưu trương: Mannitol 20% - Liệu pháp hạ thân nhiệt - Tăng thông khí - Giữ ổn định huyết áp 1. Điều trị ngoại khoa[1] Mở rộng sọ giải áp: Mở rộng sọ giải áp thuỳ trán hai bên hoặc thái dương- trán- đính một bên hoặc hai bên tuỳ theo thương tổn đã được nhiều tác giả tán thành và áp dụng như là một biện pháp làm giảm áp lực trong sọ cho những trường hợp CTSN nặng, gây tăng áp lực trong sọ không đáp ứng với điều trị nội khoa đơn thuần. Biện pháp nầy làm giảm áp lực trong sọ một cách nhanh chóng và có hiệu quả ngay sau khi giải áp. Loại bỏ máu tụ trong sọ nếu có chỉ định: Máu tụ trong sọ là một nguyên nhân gây tăng áp lực trong sọ, nếu lấy đi khối máu tụ bằng phương pháp ngoại khoa sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất làm cho áp lực trong sọ giảm.
Máu tụ thường xảy ra ngay sau CTSN và sẽ được điều trị ngay ở thời điểm còn khả năng cứu chữa được, có khoảng 10% máu tụ trong sọ xuất hiện chậm.