chương 1 tác giả đề cập đến đặc điểm thị trường thuốc dọa sẩy thai, dọa sinh non nói chung và đặc điểm thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare nói riêng; các khái niệm cơ bản về quyết định kê đơn thuốc, đồng thời tác giả cũng giới thiệu các học thuyết tiêu biểu nhất liên quan đến quyết định kê đơn thuốc như: thuyết hành động có lý do, thuyết hành vi có hoạch định. Bên cạnh đó tác giả đưa ra một số nghiên cứu các yếu tố tác động lên quyết định kê đơn thuốc của bác sĩ trên thế giới và Việt Nam. Qua đó ứng dụng mô hình phù hợp nhất cùng với việc thảo luận tay đôi và phân tích để chọn mô hình và thang đo cho nghiên cứu. Đặc điểm thị trường thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non tại Việt Nam Thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non Dọa sẩy thai là tình trạng ra huyết âm đạo ở thai sống có tuổi thai dưới 20- 24 tuần, kèm theo không có đau bụng và không có mở cổ tử cung.
Trong giai đoạn này phôi còn sống chưa bị bong khỏi niêm mạc tử cung, nếu được điều trị sớm thì có thể giữ được thai. Sinh non là khi trẻ được sinh ra ở tuổi thai từ 28 đến 37 tuần (tính từ ngày đầu kỳ kinh cuối). Chuyển dạ sinh non xảy ra khi có cơn co tử cung “đều đặn” đi kèm với các dấu hiệu: sự thay đổi cổ tử cung, hoặc cổ tử cung mở lớn hơn 2 cm, hoặc cổ tử cung xóa lớn hơn 80% ở tuổi thai < 37 tuần. Thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non là các loại thuốc nhằm điều trị ngăn cản hiện tượng dọa sẩy thai, dọa sinh non xảy ra ở thai phụ trong giai đoạn dưới 20- 24 tuần hoặc từ tuần 28 đến trước tuần thứ 37 của thai kỳ.
5 Phân loại thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non Trên thị trường dược phẩm Việt Nam, thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non hiện nay chỉ có thuốc tân dược. Riêng về đông y hầu như không có loại thuốc nào dành riêng cho điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non. Thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non có thể chia thành 5 nhóm: Thuốc kích thích thụ thể beta (Beta-minetics): Salbutamol, Terbutalin, Ritodrine Thuốc chẹn kênh calci: Nifedipine Thuốc bảo vệ thần kinh: Magnesium sulphate Thuốc ức chế thụ thể oxytocin: Atosiban Hormone Progestins: Progesterone, dydrogesterone Vài nét về thực trạng thị trường thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non hiện nay Theo các khảo sát mới nhất của ngành y tế, Việt Nam mỗi năm có 120.000 thai phụ có các triệu chứng dọa sẩy thai, dọa sinh non, tức chiếm gần 10% trên tổng số thai phụ và tỉ lệ này có xu hướng ngày càng tăng. Hiện nay, trên thế giới việc sử dụng Progesterone trong điều trị phụ nữ bị sẩy thai tái phát (3 lần hoặc nhiều hơn 3 lần sẩy thai liên tiếp) đã cho thấy hiệu quả làm giảm có ý nghĩa thống kê tỉ lệ sẩy thai so với giả dược hoặc không điều trị (OR 0,38; 95% CI 0,20-0,70).
Không tăng tỷ lệ xuất huyết trước sinh (RR 0,76; 95% CI 0,30 - 1,94), hoặc tăng huyết áp thai kỳ (RR 1,00, 95% CI 0,54 - 1,88) cho mẹ. Tỷ lệ dị tật bẩm sinh không khác nhau giữa các trẻ sơ sinh của các bà mẹ sử dụng progestogen và những người không sử dụng (RR 0,70, 95% CI 0,10-4,82). Bên cạnh đó, không có khác biệt về hiệu quả điều trị theo các đường sử dụng progestogen (uống, tiêm bắp, đặt âm đạo) so với giả dược hoặc không điều trị. 6 Tại Việt Nam, theo thống kê chuyên ngành, có trên 90.000 phụ nữ hàng năm được điều trị bằng Utrogestan – Progesterone dạng hạt vi thể hóa có nguồn gốc thiên nhiên.
Tuy nhiên hiện nay, các sản phẩm thuốc điều trị chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài. Do đó tiềm năng thị trường về thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non là khá lớn cho Besins Healthcare. Đặc điểm thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare Thuốc điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non của công ty Besins Healthcare- Utrogestan–Progesterone dạng hạt vi thể hóa có nguồn gốc thiên nhiên hỗ trợ điều trị tình trạng sảy thai, dọa sinh non do mức độ progesterone thấp ở thai phụ. Utrogestan nằm trong nhóm thuốc Hormone Progestins, hiện là thuốc dẫn đầu thị trường các hormone progestins trong chỉ định điều trị dọa sẩy thai, dọa sinh non.
Thuốc bao gồm các đặc tính dược lực của progesterone tự nhiên, gồm: Trợ thai, kháng estrogene, kháng nhẹ androgene, kháng aldosterone. Thuốc được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa. Sau khi uống thuốc, nồng độ progesterone huyết tương bắt đầu tăng ngay trong giờ đầu tiên và nồng độ cao nhất được ghi nhận sau khi uống thuốc từ 1 đến 3 giờ. Do thuốc có thời gian lưu lại trong mô nên cần phải chia liều hàng ngày làm 2 lần cách nhau 12 giờ để đạt tình trạng bão hòa trong suốt 24 giờ.
Sự nhạy cảm đối với thuốc có khác nhau giữa người này và người khác, tuy nhiên ở cùng một người thì các đặc tính dược động thường rất ổn định, do đó khi kê đơn bác sĩ cần chỉnh liều thích hợp cho từng người và một khi đã xác định được liều thích hợp thì liều dùng được duy trì ổn định. 7 Những vấn đề cơ bản về quyết định kê đơn thuốc Quyết định kê đơn bác sĩ Quyết định kê đơn bác sĩ là một khái niệm rất rộng bao gồm khía cạnh khác nhau. Trong nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc sử dụng thuốc trong điều trị bệnh. Các giai đoạn khác nhau trong quá trình sử dụng thuốc trong điều trị bệnh của bác sĩ gồm nhận thức về sản phẩm, thu thập thông tin, thái độ tích cực đối với các sản phẩm, thử nghiệm nó trong một số cách trực tiếp hoặc gián tiếp, việc tìm kiếm sự hài lòng trong việc thử nghiệm và áp dụng các sản phẩm vào sử dụng thuốc trong điều trị bệnh.
Quá trình này cũng tương tự như quá trình khuếch tán, quá trình mà các ý tưởng và sản phẩm được chấp nhận bởi một xã hội. Đó là, quyết định của bác sĩ để áp dụng một loại thuốc bị ảnh hưởng bởi sự tiếp xúc của họ với các bác sĩ khác thái độ, kiến thức, hoặc hành vi (Campbell EG, 2007). Các lý thuyết liên quan đến quyết định kê đơn thuốc 1.1 Thuyết hành động có lý do (Theory of Reasoned Action – TRA) Thuyết hành động có lý do (TRA) là một lý thuyết thuộc ngành tâm lý học xã hội. Các nhà tâm lý học xã hội đã cố gắng giải thích làm thế nào và tại sao thái độ lại tác động đến hành vi.
Tại sao và như thế nào mà niềm tin của mỗi con người khiến họ thay đổi cách thức và đường lối hành động. Thuyết hành động có lý do được Martin Fishbein giới thiệu lần đầu vào năm 1967, một nhà tâm lý học xã hội của đại học Illinois tại Urbana. Ông đã đưa ra nhận định về mối quan hệ giữa “Niềm tin” và “Thái độ”. Sau đó, vào thập niên 70, Fishbein đã cộng tác cùng Icek Ajzen thuộc đại học Massachusetts, Amherst để nghiên cứu và phát triển lý thuyết này.
TRA quan tâm đến mối liên quan giữa niềm tin, hành vi, chuẩn chủ quan, thái độ và ý định hành vi. Fishbein đã phân biệt Thái độ về một đối tượng cụ thể và Thái độ hướng về hành vi liên quan đến đối tượng đó. Ông cũng chứng minh thái độ hướng về hành vi giúp dự đoán hành vi tốt hơn là thái độ đối với con người, các tổ chức, các hiện tượng xã hội. Lý thuyết này cho rằng có một mối liên kết mật thiết 8 giữa việc đo lường thái độ, ý định hành vi và hành vi của một cá nhân trong cùng điều kiện hoàn cảnh, thời gian và mục tiêu hành động.
Thuyết TRA giả định một chuỗi ngẫu nhiên liên kết niềm tin về hành vi và chuẩn chủ quan với ý định hành vi và hành vi. Lý thuyết này cũng cho thấy rằng yếu tố quyết định quan trọng nhất của hành vi là ý định hành vi của cá nhân. TRA giải thích rằng hành vi cá nhân được điều khiển bởi ý định hành vi, và ý định hành vi là yếu tố quyết định thái độ hướng về hành vi. Ý định hành vi là một sự phán đoán tốt cho hành vi.
Khái niệm này được xem là khả năng có thể xảy ra mà một cá nhân chắc chắn sẽ thực hiện một hành vi. Fishbein cho rằng các biến trong mô hình ông xây dựng có thể ảnh hưởng đến ý định và hành vi. Tuy nhiên, các biến này phải ảnh hưởng đáng kể đến các yếu tố thái độ hoặc niềm tin, chuẩn chủ quan. Các biến ông đề cập bao gồm các yếu tố nhân khẩu và tính cách tiêu biểu của cá nhân.
Theo TRA, ý định hành vi có thể được dự đoán nếu đáp ứng được 3 điều kiện. Thứ nhất, những ý định và hành vi phải phù hợp với mục tiêu hành động, hoàn cảnh và thời gian cụ thể. Thứ hai, ý định và hành vi không thay đổi trong cùng khoảng thời gian khi việc đánh giá ý định và đánh giá hành vi diễn ra. Cuối cùng, hành vi đó phải chịu sự kiểm soát của nhận thức.
Từ đó, cá nhân sẽ quyết định thực hiện hay không thực hiện hành vi. TRA giúp giải mã hành vi của một cá nhân bằng cách nhận diện, đo lường và kết nối những niềm tin có liên quan của người đó, cho phép hiểu lý do thúc đẩy hành vi. Tuy nhiên, TRA cũng mang nhiều hạn chế (Taylor, 2001). Một trong những hạn chế là xuất phát từ bản chất tự nhiên của việc tự thuật, được dùng để xác định thái độ chủ thể.
Các thông tin do cá nhân tự thuật lại được sử dụng khi áp dụng thuyết này chứ không qua quan sát trực tiếp. Trong khi các dữ liệu tự thuật lại mang tính chất rất chủ quan và không chính xác Hạn chế lớn nhất của thuyết TRA là giả định tất cả hành vi đều chịu sự kiểm soát của lý trí. Nhưng đôi khi lý trí không thể kiểm soát được toàn bộ hành vi của một người. Do đó, TRA chỉ áp dụng được với hành vi thực hiện có ý thức.
Quyết định không hợp lý, hành động theo thói quen 9 hoặc hành vi thực hiện không phải do ý thức không thể giải thích được bằng thuyết này. Những người thường thay đổi hành vi của họ phụ thuộc vào hoàn cảnh hiện tại của họ cũng không phải đối tượng của thuyết này.