ĐẶT VẤN ĐỀ Ước tính mỗi năm có khoảng 500.000 người phát triển bệnh LDDTT ở Hoa K ; trong đó, độ tuổi từ 25 đến 64 tuổi chiếm phần lớn với 70%. Chi ph chăm sóc sức khỏe tr c tiếp và gián tiếp hàng năm của bệnh LDDTT được ước tính khoảng 10 tỷ USD. Tỷ lệ hiện hành hành suốt đời của bệnh LDDTT trong dân số được ước t nh là khoảng 5–10% và tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 0,1–0,3% mỗi năm. Những người b bệnh LDDTT có nguy cơ phát triển các biến chứng như xuất huyết dạ dày tá tràng, thủng và tắc nghẽn; đáng chú ý tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân có các biến chứng này là cao.
Chất lượng cuộc sống (Quality of Life - QL)” là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ s sảng khoái, hài lòng hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội. “Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (Health Related Quality of Life - HRQL)” tập trung vào tác động của sức khỏe đối với khả năng của một người để có được một cuộc sống viên mãn. HRQL đại diện cho một khái niệm rộng lớn về thể chất, tâm lý với hoạt động xã hội và hạnh phúc bao gồm cả khía cạnh tích c c và tiêu c c. Hiện nay, mặc d đã có nhiều tiến bộ trong điều tr , nhưng LDDTT đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Đã có nhiều nghiên cứu trước đây về bệnh LDDTT, nhưng phần lớn tập trung vào d ch tễ học, gánh nặng bệnh tật, chẩn đoán, điều tr hay kiến thức của bệnh nhân về bệnh. Trong khi đó, các nghiên cứu về QL cũng như HRQL của bệnh nhân LDDTT còn hạn chế, đặc biệt tại một quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Do chưa có thang điểm đo lường QL dành riêng cho người Việt Nam với một số bệnh đặc thu nói riêng, nên các nghiên cứu trước đã phải sử dụng thang điểm của một số quốc gia khác trên thế giới. HRQL là một lĩnh v c nghiên cứu đã thu hút s quan tâm ngày càng gia tăng trong hai thập kỷ trở lại đây.
Bảng câu hỏi dạng ngắn 36 (SF-36), là một công 2 cụ để đánh giá QL, đã được sử dụng trong nghiên cứu để đánh giá QL của dân số nói chung và dân số mắc các bệnh mãn t nh đặc biệt trên toàn thế giới. Th c tế, các nghiên cứu d a trên phiên bản tiếng việt SF-36 để đánh giá HRQL còn rất hạn chế về quy cách áp dụng, các mô hình khái niệm khác nhau về hoạt động, khuyết tật và sức khỏe. Do đó, chúng tôi th c hiện nghiên cứu với 2 mục tiêu như sau: 1. Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng tại Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp năm 2021 sử dụng bộ công cụ SF-36.
Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân loét dạ dày tá tràng tại Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Tỷ lệ mắc LDDTT ban đầu có s gia tăng và sau đó giảm xuống trong nhiều năm trở lại đây. Jennings và cộng s đã phân t ch dữ liệu d ch tễ học của LDDTT kéo dài 150 năm và thấy rằng tỷ lệ mắc và tử vong do LDDTT đã tăng lên rõ rệt trong thế kỷ XIX và sau đó giảm dần do những cải thiện về vệ sinh môi trường và các chiến lược điều tr y tế ph hợp. Trong 50 năm đầu của thế kỷ XX tại Hoa K , LDDTT ảnh hưởng đến khoảng 10% dân số trưởng thành [1].
Một số nghiên cứu được th c hiện trong 20–30 năm qua chỉ ra xu hướng giảm mạnh về tỷ lệ mắc LDDTT, số lần nhập viện liên quan đến LDDTT và tử vong liên quan đến LDDTT do áp dụng các liệu pháp chống LDDTT mới. Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi thuốc chống viêm không steroid (NSAID), thuốc đối kháng thụ thể histamine 2 và chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc, cũng như tăng căng thẳng sinh lý, đã được báo cáo là các yếu tố nguy cơ và đã làm thay đổi cục diện của LDDTT trong những năm gần đây. Chi tiết về những thay đổi d ch tễ học do các yếu tố nguy cơ tương đối mới này gây ra vẫn còn nhiều tranh cãi. Nhiều nghiên cứu đã sử dụng các công cụ đã được kiểm chứng để đo lường HRQL ở những người b LDDTT.
Một t nghiên cứu duy nhất sử dụng Short-Form-36 (SF-36) để so sánh bệnh nhân viêm LDDTT với nhóm chứng khỏe mạnh đã báo cáo rằng bệnh nhân viêm LDDTT có điểm SF-36 thấp hơn đáng kể so với nhóm chứng khỏe mạnh ở hầu hết mọi lĩnh v c. Mokrowiecka báo cáo điểm SF-36 th c tế (thay vì chỉ ở mức ý nghĩa). Từ tổng số điểm có thể có là 100 (điểm số cao hơn cho thấy t suy giảm hơn), 35 bệnh nhân b LDDTT đạt điểm trung bình 32,8, trong khi 40 bệnh nhân khỏe mạnh đạt điểm 94,0. Lĩnh v c b ảnh hưởng nặng nhất là vai trò vật lý (32,8 đối với bệnh LDDTT so với 94,5 đối với nhóm chứng).
Lĩnh v c duy nhất không thấp hơn đáng kể ở bệnh nhân LDDTT so với nhóm 4 chứng là cảm xúc vai trò (52,4 đối với bệnh LDDTT so với 70,0 đối với nhóm chứng). Một số báo cáo đã sử dụng chỉ số sức khoẻ chung về tâm lý (Psychological General Well-Being index) để đánh giá HRQL ở bệnh nhân Thụy Điển b LDDTT hoặc nghi ngờ mắc bệnh LDDTT trước khi điều tr. Điểm số ở bệnh nhân LDDTT dao động từ 82-91, thấp hơn mức chung của dân số Thụy Điển là 100-105, cho thấy HRQL b suy giảm ở những bệnh nhân này. Trong một nghiên cứu nằm trong d án của Cơ quan Công nghệ Y tế Vương quốc Anh (n = 57), 53 bệnh nhân nhập viện vì chảy máu do LDDTT đã được khảo sát bằng cách sử dụng EuroQol visual analogue scale 7 ngày sau đợt chảy máu hoặc khi xuất viện, và sau đó 4 tuần sau khi chảy máu.
Điểm số cao hơn cho thấy HRQL tốt hơn, với điểm số có thể dao động từ 0 đến 10. Bệnh nhân trong nghiên cứu có điểm HRQL trung bình là 5,98 vào 7 ngày sau đợt chảy máu hoặc khi xuất viện, so với 7,96 ở 4 tuần. Một số nghiên cứu đã so sánh tr c tiếp bệnh viêm LDDTT với các bệnh khác về chi ph và ảnh hưởng đến HRQL. Trong nghiên cứu tại Mỹ của Sandler và cộng s , bệnh LDDTT là bệnh GI gây tốn kém thứ tư, ở mức 1,3 tỷ USD mỗi năm, sau GERD (9,3 tỷ USD), bệnh túi mật (5,8 tỷ USD) và đại tr c tràng.
Trên cơ sở từng bệnh nhân, chi ph cho bệnh LDDTT ở một tổ chức chăm sóc sức khỏe lớn của Hoa K được báo cáo là rất giống với GERD. Bệnh nhân b LDDTT, GERD và viêm loét đại tràng được phát hiện có điểm số tương t nhau ở hầu hết các lĩnh v c SF-36 và thấp hơn đáng kể so với đối chứng khỏe mạnh ở hầu hết các lĩnh v c. Việc phát hiện và điều tr bệnh LDDTT nhanh chóng và hiệu quả sẽ giảm bớt gánh nặng của căn bệnh này và có thể giúp giảm khả năng biến chứng nghiêm trọng. Điều này sẽ có lợi cho bệnh nhân về giảm các triệu chứng và cải thiện HRQL, và cho các hệ thống chăm sóc sức khỏe và người sử dụng lao động về việc giảm chi ph.
Điều tr hiệu quả đối với bệnh 5 LDDTT, điều quan trọng là cho phép bệnh nhân tiếp tục nhận NSAID hoặc axit acetylsalicylic liều thấp để điều tr hoặc phòng ngừa các tình trạng như nhồi máu cơ tim. Tại Việt Nam, số người mắc bệnh này chiếm tỷ lệ 5-7% dân số cả nước. Ngày nay, loét tá tràng có xu hướng tăng, loét tá tràng/loét dạ dày là 2/1và đa số gặp ở nam giới. S khác biệt giữa loét dạ dày và loét tá tràng theo bảng dưới: 1.
t t v t t tr Dạ dày Tá tràng Tần suất bệnh 2% 8% Số ca mới mắc hằng năm 0,03% 0,12% Nam/Nữ 1/1 2/1 Nhóm máu A O Pepsinogen I Bình thường hoặc giảm Bình thường hoặc tăng Acid d ch v Bình thường hoặc giảm Bình thường hoặc tăng Biến chứng Ung thư Rất hiếm Nguồn: Bệnh tiêu hóa Gan-Mật, Trường Đại học Y Huế (2006) Loét dạ dày, hành tá tràng là một bệnh khá phổ biến trong cộng đồng, chiếm khoảng 10% dân số ở nhiều quốc gia. Ở Việt Nam con số này chiếm khoảng 6-7%. Đặc điểm ch nh của bệnh là một bệnh mạn t nh, diễn biến có chu k , xu hướng hay tái phát và dễ gây biến chứng nguy hiểm như chảy máu hay thủng, ung thư dạ dày. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, thường kéo dài, ảnh hưởng đến QL và công việc, làm giảm sút sức lao động của toàn xã hội.
Bên cạnh đó, viêm dạ dày mạn t nh là một bệnh khá phổ biến trên thế giới cũng như Việt Nam. S phát hiện nguyên nhân gây bệnh do vi khuẩn Helicobacter pylori (H.P) đã đưa đến một phương thức điều tr mới đó là phải sử dụng kháng sinh kết hợp. viêm dạ dày mạn t nh có H.P dương t nh chiếm tỷ lệ 20-30% dân số ở các nước công nghiệp và 70-90% ở các nước đang phát triển. Ở Pháp tỷ lệ nhiễm H.P chiếm 53% số người đến khám bệnh 6 và được nội soi tiêu hóa.
Tỷ lệ nhiễm H.P đang giảm ở v ng Châu Á- Thái Bình Dương, nhưng ở Việt Nam tỷ lệ nhiễm còn cao. Ở Việt Nam chưa có theo dõi trên cộng đồng lớn, chưa có theo dõi dọc, chủ yếu số liệu thống kê d a trên những nghiên cứu rải rác trong các cộng đồng nhỏ. Tỷ lệ nhiễm H.P ở lứa tuổi từ 15-75 là 56%- 75,2% với xét nghiệm huyết thanh học và tỷ lệ nhiễm trong các thể bệnh qua nội soi ở người lớn vào khoảng 53-89,5% tại một số bệnh viện thành phố lớn. Tỷ lệ nhiễm H.P trong viêm dạ dày mạn ở miền Bắc Việt Nam từ 53-72,8%; ở thành phố Hồ Ch Minh 64,7%.
Giống như người lớn, đa số trẻ ở Việt Nam nhiễm HP không có triệu chứng, chỉ một phần nhỏ b loét dạ dày, HP được tìm thấy ở 90% trẻ loét dạ dày. Vì những số liệu về loét dạ dày ở trẻ em còn t nên rất khó đánh giá tần suất gặp của bệnh, ước đoán loét dạ dày là bệnh hiếm gặp với tần suất từ 2- 6,8% ở những trẻ có hội chứng dạ dày.