phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 2 chƣơng, 6 tiết. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TƢ DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm tƣ duy, tƣ duy lý luận 1. Tư duy Trong quá trình hoạt động thực tiễn con ngƣời đồng thời tiến hành hoạt động nhận thức thế giới khách quan.
Trong quá trình đó, con ngƣời muốn cải tạo sự vật, hiện tƣợng đòi hỏi phải nhận thức đƣợc bản chất, quy luật của các mối quan hệ nội tại, mối quan hệ giữa các sự vật hiện tƣợng với nhau và giữa chúng với thế giới khách quan. Qúa trình nhận thức này, đòi hỏi chủ thể phải trải qua hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Trong đó, nhận thức cảm tính là sự phản ánh bề ngoài của các sự, hiện tƣợng, cung cấp các cứ liệu làm cơ sở cho nhận thức lý tính. Chính từ những phản ánh bề ngoài, trực quan đơn lẻ của giai đoạn nhận thức cảm tính đem lại, thông qua những thao tác tƣ duy bằng khái niệm, phán đoán, suy lý, chủ thể nhận thức có thể đi sâu phân tích và khám phá bản chất của thế giới khách quan.
Qúa trình này đƣợc lặp đi lặp lại dựa trên sự kiểm nghiệm của thực tiễn đối với tri thức lý luận, giúp cho tƣ duy không ngừng hoàn thiện và phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Tƣ duy là một thuộc tính đặc biệt của con ngƣời, thể hiện trình độ nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của chủ thể. Tƣ duy chính là vấn đề cơ bản nhất của nhận thức luận. Vì vậy, tƣ duy đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ: nhận thức luận, lôgic học, tâm lý học, sinh lý học… Trong mỗi lĩnh vực khoa học, tƣ duy lại đƣợc tiếp cận dƣới góc độ khác nhau cụ thể là: trong nhận thức luận nghiên cứu tƣ duy trong quá trình nhận thức với các quan hệ tri thức - hiện thực, chủ thể - khách thể; lôgic học lại nghiên cứu các quy luật, hình thức và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thao tác tƣ duy; lĩnh vực tâm lý học nghiên cứu tƣ duy với tƣ cách là hoạt động của bộ não, hệ thần kinh cao cấp trong quá trình tƣơng tác với môi trƣờng xung quanh; còn trong sinh lý học nghiên cứu tƣ duy đơn thuần là hoạt động thuần túy của hệ thần kinh.
Trong lịch sử Triết học, khi bàn về vấn đề tƣ duy đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau, sự khác nhau đó là do xuất phát từ các lập trƣờng triết học khác nhau tạo nên. Nhƣng dù đứng trên lập trƣờng duy vật hay duy tâm, dƣới sự kế thừa lẫn nhau thì các nhà triết học trƣớc Mác đã đạt đƣợc những thành quả nhất định trong việc phân chia các giai đoạn của nhận thức, khẳng định vai trò của cảm giác, kinh nghiệm, lý tính, tƣ duy. Tuy nhiên, họ vẫn chƣa đi sâu vào giải quyết một cách đúng đắn, khoa học về vai trò, tác dụng, cách thức hoạt động của cảm tính, tƣ duy; quan hệ cảm tính và lý tính theo lập trƣờng duy vật. Nhƣ vậy, các nhà triết học trƣớc Mác vẫn chƣa xây dựng đƣợc một quan niệm đầy đủ về tƣ duy nói riêng và phƣơng pháp nhận thức khoa học nói chung cho hoạt động nhận thức của con ngƣời.
Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, đã tạo nên một bƣớc tiến mới trong việc đƣa ra những quan điểm khoa học đúng đắn về tƣ duy. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: “Tƣ duy là sản phẩm cao nhất của một dạng vật chất, đƣợc tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận… Thực chất, tƣ duy chính là sản phẩm cao nhất của một dạng vật chất đƣợc tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận… Tƣ duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con ngƣời và phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật của thực tại” [72, tr.Ăngghen cho rằng: “Nếu ngƣời ta đặt câu hỏi rằng tƣ duy, ý thức là gì, chúng từ đâu đến, thì ngƣời ta sẽ thấy rằng chúng là sản vật của bộ óc con ngƣời” [35, tr. Tƣ duy phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc con ngƣời một cách khái quát và gián tiếp. Chính trong quá trình lao động sản xuất của xã 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội loài ngƣời tƣ duy đã xuất hiện và phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối quan hệ hợp quy luật của thực tiễn.
Vì vậy, tƣ duy luôn gắn liền với hoạt động sinh lý của bộ não ngƣời, bên cạnh yếu tố sinh học thì yếu tố xã hội cũng có tác động quyết định đối với tƣ duy. Tƣ duy là sản phẩm của xã hội từ những đặc điểm, phƣơng thức hoạt động và cả kết quả. Vì thế, tƣ duy luôn gắn liền với các hoạt động đặc trƣng của xã hội loài ngƣời là lao động sản xuất, giao tiếp và ngôn ngữ. Hoạt động thực tiễn của con nguời là nguồn gốc, động lực chủ yếu của tƣ duy nên thực tiễn trở thành tiêu chuẩn cao nhất của tƣ duy con nguời.
Tƣ duy với tƣ cách là hoạt động không thể thiếu trong hoạt động chủ quan của con ngƣời, với sự sáng tạo và tiên đoán các sự vật hiện tƣợng trong thế giới. Tƣ duy còn đƣợc xuất hiện và hiện thực hóa trong quá trình đặt ra và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của con ngƣời. Nhƣ vậy, tƣ duy của con ngƣời không bất biến mà phát triển từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp, có thể trình bày một số đặc trƣng cơ bản của tƣ duy nhƣ sau: Thứ nhất, tư duy là hình thức cao nhất của sự phản ánh trong nhận thức của con người. Chính quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan đã đem lại nhận thức khoa học, năng lực khám phá và sáng tạo những tri thức mới về các mối quan hệ bản chất, quy luật khách quan chi phối sự phát triển của hiện thực.
Triết học Mác - Lênin khẳng định nhận thức chính là một quá trình đi từ “trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng và từ tƣ duy trừu tƣợng đến thực tiễn, đó là con đƣờng biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [29, tr. Vậy, tƣ duy là quá trình nhận thức của con ngƣời đi từ việc nhận thức các tính chất, hiện tƣợng bề ngoài trong thế giới hiện thực. Trong đó, quá trình nhận thức chỉ có thể đạt đến sự nhận thức về bản chất và quy luật vận động, phát triển của các sự vật hiện tƣợng khi nhận thức ở trình độ tƣ duy lý luận. Tƣ duy là trình độ cao của quá trình nhận thức, đó là quá trình phản ánh khái quát hóa, chỉ ở trình độ nhận thức này mới có 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể phản ánh đƣợc những thuộc tính chung mang tính phổ biến, cơ bản của sự vật khách quan.
Tƣ duy không phải là toàn bộ quá trình nhận thức, mà là một giai đoạn của quá trình nhận thức và đƣợc hình thành trên cơ sở nhận thức cảm tính. Vì vậy, nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con ngƣời sẽ hạn chế, bởi con ngƣời không thể dùng cảm giác để nhận thức và hiểu các vấn đề nhƣ tốc độ, âm thanh, hình ảnh, cũng nhƣ các hiện tƣợng phong phú và phức tạp khác trong xã hội. Để có đƣợc những nhận thức khoa học về các vấn đề phong phú đó, không thể thiếu đƣợc sức mạnh của tƣ duy. Tƣ duy đƣợc diễn ra dƣới hình thức của các khái niệm, phán đoán, suy lý, giải thuyết, lý thuyết, lý luận.
Kết quả của các quá trình tƣ duy này là sự phản ánh các thuộc tính, các mối quan hệ cơ bản, phổ biến ở mỗi sự vật riêng lẻ và cả ở nhóm các sự vật nhất định và kết quả cuối cùng đƣợc ghi lại thông qua ngôn ngữ. Thứ hai, tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp và khái quát. Tƣ duy là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của con ngƣời một cách khách quan và gián tiếp bởi con ngƣời, xã hội thông qua chính quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới. Trong giai đoạn nhận thức bằng tƣ duy, sự vật đƣợc phán ánh một cách gián tiếp và khái quát bằng các khái niệm, phán đoán, suy lý.
Qúa trình trừu tƣợng hóa của tƣ duy hƣớng vào việc đi tìm chân lý, những mối liên hệ khách quan có tính bản chất và phát hiện ra quy luật chi phối các sự vật hiện tƣợng. Chính sự phản ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp và khái quát mà tƣ duy có khả năng tách rời nhất định với sự vật và có sự độc lập tƣơng đối với các sự vật, hiện tƣợng. Sự xuất hiện của các khái niệm, phạm trù đã cho thấy khả năng phản ánh thực tại khách quan mang tính khái quát cao của tƣ duy con ngƣời. Nhƣ vậy, đặc trƣng khái quát và gián tiếp của tƣ duy đƣợc biểu hiện ở việc đi từ “một hình thức liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau này đến một hình thức khác sâu sắc hơn, chung hơn” [31, tr.240], từ sự hiểu biết có tính chất hiện tƣợng đến hiểu biết có tính bản chất; đi từ cái ngẫu nhiên, bên ngoài đến quan hệ có tính tất nhiên, mang tính quy luật.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba, tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách tích cực, sáng tạo. Nghĩa là tƣ duy phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con ngƣời không phải một cách thụ động, rập khuôn máy móc mà mang tính tích cực, sáng tạo. Bởi bản chất của con ngƣời là một thực thể năng động, sáng tạo trong việc nhận thức và cải tạo thế giới, xuất phát từ hoạt động thực tiễn nên tƣ duy của con ngƣời cũng phản ánh thế giới một cách tích cực và sáng tạo. Tƣ duy thể hiện tính tích cực ở việc vƣợt lên trên nhận thức cảm tính, xây dựng hệ thống tri thức mới về thế giới khách quan, từ đó phản ánh bản chất của sự vật.