Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển Tín dụng theo chuỗi giá trị cho sản xuất, kinh doanh thủy sản. - Chương 3: Thực trạng phát triển Tín dụng cho sản xuất, kinh doanh thủy sản và khả năng phát triển Tín dụng theo chuỗi giá trị cho sản xuất kinh doanh thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. - Chương 4: Giải pháp thúc đẩy phát triển Tín dụng theo chuỗi giá trị cho sản xuất, kinh doanh thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Theo đó, Tín dụng theo chuỗi giá trị là hình thức cho vay mới tại Việt Nam, được NHNN triển khai từ năm 2014. Nhà nước đã bước đầu triển khai các chính sách mang tính chất hỗ trợ tích cực đến hoạt động của chuỗi giá trị ngành nông nghiệp, trong đó có nhiều chính sách liên quan đến việc hỗ trợ về vốn, như Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 05/3/2014 giao NHNN phối hợp với Bộ No&PTNT, Bộ KH&CN triển khai chương trình cho vay thí điểm các mô hình liên kết trong sản xuất nông nghiệp; Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về việc chính sách Tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn…Từ thực tiễn đặt ra, các nghiên cứu khoa học về vấn đề này tại Việt Nam bắt đầu được đề cập nhưng chậm hơn so với xu hướng nghiên cứu của thế giới. Để có thông tin c ần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu luận án, nghiên cứu sinh đã tiến hành tổng quan tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến chủ đề này, có thể chia thành các nhóm tài liệu sau: 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển lĩnh vực thủy sản Nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh cho mặt hàng sản xuất, kinh doanh thủy sản xuất khẩu, Trương Thị Thuý Bình (2015), trong “Giải pháp phát triển thương hiệu cho hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam", Luận án tiến sĩ kinh tế Chuyên ngành: Thương mại, đã có cách tiếp cận mới về thương hiệu và phát triển thươ ng hiệu cho hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam.
Theo đó, mô hình phát triển thương hiệu cho hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sẽ dựa trên phát triển thương hiệu tập thể cho các nhóm sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu chủ lực gắn với dạng thức thương hiệu chứng nhận, với sự dẫn dắt của các doanh nghiệp mạnh về chế biến xuất khẩu thuỷ sản và kết hợp với phát triển thương hiệu riêng của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản. Trong đó, một số nội dung cơ bản để phát triển thương hiệu là duy trì và kiểm soát chất lượng; bảo vệ thương hiệu; phát triển các hoạt động truyền thông thương hiệu; mở rộng và làm mới thương hiệu cho nhữ ng nhóm sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu chủ lực; phát triển các chuỗi liên kết cung ứng hàng thuỷ sản xuất khẩu, các chuỗi này thuộc về các doanh nghiệp mạnh. 11 Luận án đã đánh giá thực trạng phát triển thương hiệu hàng thuỷ sản Việt Nam thời gian qua, từ đó đã đề xuất quan điểm, định hướng lớn và các nhóm Giải pháp nhằm phát triển thương hiệu cho hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam. Công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển chăn nuôi thủy sản cụ thể là sản phẩm tôm nuôi trên địa bàn nghiên cứu của luận án, đề tài “phát triển nuôi tôm bền vững ở các tỉnh duyên hải miền Trung” của tác giả Lê Bảo (2010), nghiên cứu này đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển bền vững, xây dựng khái niệm phát triển nuôi tôm bền vững và những yêu cầu trong nội dung phát triển nuôi tôm bền vững.
Xác định các nhân tố ảnh hưởng và xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững ở các tỉnh duyên hải miền Trung. Luận án đã xác định kênh phân phối sản phẩm tôm nuôi vùng duyên hải miền Trung, yếu tố nguồn lực hỗ trợ đầu vào từ chính quyền mà đồng vốn hỗ trợ là trọng tâm, chỉ ra những mặt còn tồn tại ở cả hai kênh phân phối nội địa và đầu tư. Kênh đầu tư các tỉnh duyên hải miền Trung cho thấy sự lấn át của các nhà nhập khẩu quy mô lớn, các nhà chế biến và các tập đoàn bán lẻ ở thị trường nước ngoài yêu cầu các nhà cung cấp sản phẩm tôm nuôi tuân thủ các quy định của các nước nhập khẩu và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, thực hiện chứng nhận về nuôi tôm bền vững. Luận án này chỉ ra những mối liên kết thông qua các kênh phân phối, chưa chỉ ra các mối liên kết từ các kênh cung ứng các yếu tố đầu vào như thức ăn, con giống, phân bổ nguồn vốn vay.
Nói cách khác, tác giả chưa đề cập đến phân tích chuỗi cung ứng sản phẩm tôm nuôi ở các tỉnh duyên hải miền Trung. Một hình thức tổ chức, một công cụ phân tích hữu ích có tính hệ thống trong chuỗi ngành hàng tôm nuôi đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập của nền kinh tế nước ta hiện nay. Ngoài ra còn có đề tài nghiên cứu “Nâng cao chất lượng tăng trưởng ngành thủy sản Vệt Nam” của tác giả Nguyễn Kim Phúc (2011), luận án tiến sĩ đã đưa ra các tiêu chí cụ thể để đánh giá số lượng và chất lượng tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam từ đó đưa ra các Giải pháp quản lý mang tầm vĩ mô để phát triển ngành thủy sản trong tương lai. Tuy nhiên tác giả chưa đi sâu vào phân tích 12 những rủi ro tác động trực tiếp đến chăn nuôi và yếu tố nguồn lực nào là chủ đạo để có thể phát triển sâu rộng hơn cho ngành thủy sản Việt Nam.
Trong phát triển lĩnh vực thủy sản cho xuất khẩu có đề tài luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương (2008) “Phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản theo đinh hướng xuất khẩu tại Đà Nẵng”. Luận án đã phân tích đánh giá khá là toàn diện có hệ thống và biện chứng những nhân tố tác động đến khả năng phát triển và phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản xuất khẩu theo hướng tiếp cận cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế. Luận án đã tính toán các tiêu thức đánh giá sự phát triển của ngành chế biến thủy sản xuất khẩu và sử dụng ma trận SWOT để đánh giá khả năng phát triển của ngành. Tuy nhiên theo đánh giá đây là một đề tài phát triển ngành nên cần có hướng Giải pháp cụ thể trong ngắn hạn cũng như dài hạn mà luận án lại đi quá sâu vào phân tích những tác nhân ảnh hưởng đến phát triển ngành thủy sản địa phương, nhưng khi phân tích xong luận án lại đưa ra các Giải pháp không thực tế tại địa phương, chưa cụ thể để có hướng đi tốt cho ngành thủy sản địa phương.
Trong vấn đề tác động của môi trường đến sự phát triển của ngành thủy sản có luận án của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2014) nói về “Giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát triển nuôi trồng thủy sản các huyện phía Nam thành phố Hà Nội”. Đề tài đã tập trung phân tích, đánh giá kết quả phát triển NTTS giai đoạn 2009-2011, những ảnh hưởng của sự phát triển này đến các thành phần môi trường, các kết quả đánh giá, phân tích dựa trên những nguồn số liệu khảo sát nhằm khẳng định mối quan hệ giữa chất lượng nuôi trồng thủy sản với chất lượng môi trường nước, phân tích các Giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát triển nuôi trồng thủy sản hiện đang áp dụng đồng thời chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu trong việc thực thi chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động phát triển nuôi trồng thủy sản. Tuy vậy đề tài này nghiên cứu về phạm vi thời gian ngắn đồng thời chỉ tập trung vào các Giải pháp quản lý môi trường nước là chính mà chưa đưa ra được biện pháp cụ thể hoặc áp dụng biện pháp khoa học tiên tiến nào vào hoạt động nuôi trồng thủy hải sản đồng thời chưa 13 nghiên cứu nhiều đến các yếu tố thời tiết hoặc con giống và môi trường sống phù hợp với từng loại thủy sản để đánh giá tốt hơn về chất lượng môi trường ảnh hưởng đến chất lượng nguồn giống thủy sản. Kiều Thị Huyền và các cộng sự, Trường đại học Nông Lâm Huế: trong nghiên cứu “Đánh giá thực trạng đầu tư cho ngành thủy sản giai đoạn 2006 – 2012 và đề xuất chính sách đầu tư phát triển ngành thủy sản của tỉnh Bình Định đến năm 2020” đã xác định: Bình Định là một tỉnh có thế mạnh về thủy sản, tuy nhiên, từ năm 2011, ngành thủy sản ở tỉnh Bình Định giảm đáng kể.
Nguyên nhân chủ yếu là, bên cạnh một số chính sách đã có những tác động tích cực đến sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu thủy sản, thì một số chính sách chưa thật sự hiệu quả. Người dân vẫn còn rất bị động trong tiếp cận chính sách. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vẫn chưa khai thác được tiềm năng sẵn có của tỉnh, đặc biệt là doanh nghiệp khai thác và chế biến thuỷ sản. Vì vậy, thủy sản Bình Định vẫn chưa đủ năng lực canh tranh với các địa phương khác cũng như trong khu vực và quốc tế.
Để phát triển ngành thủy sản trong thời gian tới, tỉnh Bình Định cần xác định mặt hàng chủ lực cho phát triển thủy sản của Bình Định là cá ngừ đại dương. Toàn tỉnh tập trung mọi nguồn lực thiết lập các cơ chế chính sách tốt nhất nhằm phát triển mặt hàng cá ngừ đại dương trở thành mặt hàng mang lại thương hiệu cho tỉnh. Về năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam có đề tài luận án của tác giả Bùi Đức Tuân (2010), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thủy sản Việt Nam”. Tác giả đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thủy sản Việt Nam, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của toàn ngành chế biến thủy sản Việt Nam, từ đó tác giả đề xuất các chính sách và Giải pháp thiết thực nhằm xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững cho ngành chế biến thủy sản Việt Nam.
Đề tài được đánh giá khá xúc tích, tập trung vào phân tích các yếu tố chính và thế mạnh của thủy sản Việt Nam.