CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỀN VÈ SẢN PHẨM DU LỊCH TEAMBUILDING 1. Khái quát về du lịch và du lịch teambuilding 1. Khải niệm du lịch Từ giữa the kỷ 19, du lịch đã tăng trưởng mạnh mẽ trở thành hoạt động kinh tế xã hội phô biến và sau dần trờ thành là một nền kinh tế mũi nhọn của các quốc gia trên thế giới. Thuật ngữ du lịch đã trở nên rất phô biến và được dịch sang tiếng Hy Lạp với nghĩa là di chuyên một vòng tròn.
Tuy nhiên, thuật ngữ của du lịch được sử dụng theo những cái nhìn và định nghĩa khác nhau như phương pháp tiếp cận, tầm quan trọng, từ tô chức hay quốc gia. Như một chuyên gia khác của du lịch là GS Berneker đã nhận xét rằng "về du lịch, có bao công trình khoa học thì có bấy nhiêu khái niệm". Theo Tô chức Du lịch Thế giới cùa Liên hợp quốc (United Nations World Tourism Organization - UNWTO) thì "Du lịch bao hàm hầu hết mọi hoạt động cùa Iihững cá nhân đi hni trú với mục đích tham quan, nghiên cứu và tìm hiểu, khám phá hoặc nghi dưỡng, vui chơi, giải trí; cũng như mục đích nghề nghiệp và nhiều mục đích ưrơng ựĩ nhau, trong thời hạn kéo dài nhưng không hơn 1 năm, ngay bên ngoài nơi họ sinh sống; nhưng ngoại trừ việc du hành mà có mục đích chù yếu là kiếm tiền". Du lịch là một hiện tượng chính trị, xã hội và kinh tế phản ánh sự quan tâm cùa người dân đổi với những quốc gia hoặc địa diêm nằm ngoài cuộc sổng bình thường của họ vì mục đích cá nhân hoặc chuyên môn/nghề nghiệp [64].
Theo từ điên Cambridge, “Du lịch là kinh doanh cung cấp dịch vụ, như phương tiện đi lại, nơi hru trú hoặc giải trí cho khách du lịch” [63]. Còn theo từ điên Oxford, “Du lịch là hoạt động kinh doanh liên quan đến việc cung cấp nơi ờ, dịch vụ và giải trí cho những người đen thăm một nơi đê giải trí” [65]. về du lịch trong Từ điên quốc tế về du lịch - Le Dictiomraire international du tourise, của Viện hàn lâm khoa học quốc tế về du lịch định nghĩa: “Du lịch là tông hợp mọi hoạt động xã hội của loài người đê hoàn thành một cuộc hành trình và là một sự kết 11 nối làm đáp ứng những nhu cầu của khách du lịch. Du lịch là cuộc hành trình giữa một bên là con người đi với mục tiêu là đã định sẵn còn một bên là những phương tiện đê đáp ứng cho nhu cầu cùa họ” [10, tr.M và cộng sự (2012), “Du lịch là việc di chuyên của một người từ một diêm khởi hành tới một diêm đến” [50].
Theo chuyên gia người Mỹ, Michael Coltman quan niệm rằng du lịch dựa vào bổn thành tố: “Du lịch là việc có sự hiện diện của bốn loại nhân tố trong quá trình phục vụ du khách gồm: du khách, công ty cung cấp dịch vụ du lịch, dân cư sờ tại và chính quyền địa phương đến nơi đón tiếp khách du lịch” [48]. Luật Du lịch Việt Nam (2017) trong diêm 3 khoản 1 thì: “Du lịch là hoạt động có ảnh hường lên chuyến hành trình của người ngoài nơi sinh sống thường xuyên trong thời hạn không quá 1 năm liên tiếp đê phục vụ mục đích tham quan, nghi ngơi, vui chơi, hiểu biết, khám phá tài nguyên du lịch hoặc sử dụng với lý do chính đáng khác” [26]. Theo phân tích cùa Nguyễn Văn Đính (2006) đã nêu ra khái niệm trên cơ sờ kết hợp giữa lý thuyết và thực tế cùa hoạt động du lịch trên thế giới và ở Việt Nam qua nhiều năm: “Du lịch là một lĩnh vực kinh doanh gồm các hoạt động tô chức tour du lịch, mua bán, vận chuyên hàng và dịch vụ của những doanh nghiệp, đê thỏa mãn mọi nhu cầu như đi lại, cư trú, ăn uổng, nghi ngơi, tham quan, trải nghiệm cùng các nhu cầu khác của khách du lịch. Những hoạt động đó sẽ mang tới hiệu quả về chính trị - xã hội trực tiếp đối với người đi du lịch và cả các doanh nghiệp” [10, tr.
Du lịch cũng thê nói trên hai khía cạnh và chi xem xét dưới lăng kính cung - cầu du lịch theo Lê Anh Tuấn (2015): Thứ nhất: Du lịch là một loại hình vui chơi giải trí và thăm thú thông thường của người dân ngoài nơi cư trú với mục đích đi tham quan, nghi dưỡng, khám phá thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử hoặc hoạt động văn hóa nghệ thuật. Thứ hai: Du lịch là một ngành kinh doanh tông hợp có hiệu quả cao trên nhiều mặt như nâng cao hiêu biết tài nguyên thiên nhiên, kiến thức lịch sử văn hóa và dân tộc, từ 12 đó giúp cho tăng cường lòng yêu tô quốc việt, đối với người ngoài là tình cảm gắn kết với dân tộc ta; về mặt thương mại thì du lịch là loại hình kinh doanh thu lại hiệu quả khá lớn, phải gọi là hoạt động xuất khâu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ [31, tr. Nlm vậy, theo tác giả du lịch là ra khòi nơi đang sinh sống đê đến một nơi khác trên 24 giờ và không quá 1 năm mà không vì mục đích kiếm tiền. Sản phẩm dn lịch 1.
Khái niệm sản phâni Sản phàm theo quan niệm marketing là toàn bộ những gi được chào bán (gây sự tò mò và chú ý cùa công chúng) trên thị trường với có khả năng thỏa mãn được nhu cầu hoặc mong muốn khách hàng. Theo chuân thế giới ISO 9000:2000 thì “Sản phâm là thành quả của những hành động hoặc các quá trình”. Sân phâm gồm có những thành phần vật chất và phi vật chất, kê cả các vật thê hữu hình (thông thường bị cho là hàng hóa) và vô hình (đôi khi được coi là dịch vụ). Theo Từ điên Tiếng Việt thì sản phàm có hai tầng ý nghĩa: “Sản phàm là thứ mà sức lao động của con người làm ra.
Sản phâm là thứ được sinh ra tự nhiên và là một quá trình phát triển”. Sản phẩm có thê là do con người tạo ra trong quá trình lao động sản xuất hoặc sản phàm được hình thành bởi quá trình phát triển của thiên nhiên [24]. Sản phàm được định nghĩa “là những hàng hóa dịch vụ có thê đưa vào khi có nhu cầu và có khả năng kiểm tiền hoặc khả năng tiêu dùng” - theo Phillip Kotler. Nó bao hàm những tính chất nhir hàng hóa hoặc các dịch vụ, các đặc diêm của sân phàm, chỗ ở, sự phát triên và tư duy đối với sản phâm [25].
Theo Trần Minh Đạo (2006): “Sản phẩm được xác định là tập hợp các hàng hóa và dịch vụ có thê mang chào bán, có khả năng thỏa mãn một nhu cầu hoặc mong muốn cùa con người, tạo sự thu hút, thúc đây sự mua và sử dụng của họ” [8]. 13 Như vậy, kill con người phát sinh một nhu cầu hoặc mong muốn nào đấy thì tất cả mọi hàng hóa và dịch vụ có thê mang chào bán đê khiến họ thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn ấy đều đtrợc coi là sản phâm. Khải niệm sản phâm dn lịch Theo Michael M. Coltman (1989), “Sản phâm du lịch là một tô hợp cùa nhiều yếu tố không xác định hữu hình và vô hình”.
Trong sàn phàm, sự hữu hình cùa nó được thê hiện rõ thông qua cơ sờ vật chất kỹ thuật nhít xe vận chuyên, phòng ngủ hay các dịch vụ theo tour du lịch,. còn sự vô hình là các sản phàm dịch vụ du lịch và nhiều dịch vụ hỗ trợ liên quan [48]. Robert Christie Mill cho biết sản phâm du lịch có 4 chiều giá là do “sự hấp dần du lịch và các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, dịch vụ du lịch cùng lòng hiếu khách”. Theo Nguyễn Văn Đính - Trần Thị Minh Hòa (2006) viết trong giáo trình kinh tế du lịch, thì “Sản phàm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa dành tặng khách, được hình thành lên bằng sự tông hợp của việc khai thác những yếu tố thiên nhiên, cùng với việc tận dụng mọi lợi thế: cơ sờ vật chất kỳ thuật và con người ở một cơ sở, một địa phương hoặc một đất nước nào đấy” [ 10, tr.
Theo Lê Anh Tuấn (2015) ghi tại Giáo trinh Tông quan du lịch thì “Sản phẩm du lịch là tất cả những hàng hóa và dịch vụ được các đơn vị có chức năng hoạt động du lịch thiết kế và cung cấp đê đáp ứng yêu cầu của khách du lịch trong quá trình di du lịch”. Sản phàm du lịch bao hàm các yếu tố hữu hình (hàng hoá) và yếu tố vô hình (dịch vụ). Theo định nghĩa thì sản phâm du lịch phải được tạo ra từ sự kết hợp của việc khai thác những yếu tố thiên nhiên hay xã hội (tài năng du lịch) với việc tập trung nhiều nguồn lực (cơ sờ vật chất kỹ thuật và con người) vào một cơ sở, một khu vực hoặc một nước nào đó [31, tr. Theo diêm 3 khoản 5 trong Luật Du lịch Việt Nam (2017) diễn giải theo hướng cung du lịch là phía khách du lịch những người được tham gia: “Sản phàm du lịch là 14 tông hợp nhiều dịch vụ trên cơ sở khai thác tối đa tiềm năng du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” [26].
Các định nghĩa về sản phẩm du lịch cũng đa dạng theo nhiều cách hiêu khác nhau nhưng tất cả cùng có chung là những đặc diêm như sự hòa quyện độc đáo cùa các yếu tổ hữu hình kết hợp với nhiều loại dịch vụ du lịch hay một số dịch vụ phụ có liên quan đã được các công ty du lịch nỗ lực khai thác và không ngừng cải tiến nhằm dần thoả mãn nhu cầu đòi hòi. Đặc diêm của sản phâm du lịch Sản phàm du lịch có nhiều đặc tính riêng biệt bên cạnh những đặc tính chung cùa ngành dịch vụ. Những đặc trưng chủ yếu của của sản phâm du lịch được tác giả Hà Nam Khánh Giao đề cập đến trong Giáo trình Quản trị Chiến lược cho tô clnrc Du lịch (2014) bao gồm [13]: Khách mua sân phâm trước khi thấy sân phâm: Khi khách hàng vào công ty hì hành hòi mua tour đi du lịch, thực ra thời diêm ấy khách chi đang đơn giản là mua một dịch vụ vô hình (bởi vì bạn không nhìn thấy rõ sản phẩm cùa nó) và với lời cam kết chắc chắn về chất lượng dịch vụ từ công ty cung írng, như vậy là khách hàng đã mua sản phẩm du lịch trước khi sử dụng nó. Khoáng thời gian mua sản phâm và thấy hoặc sứ dụng sân phâm khá lâu: Sau khi mua chương trình đi du lịch nước ngoài khách hàng sẽ cần một thời gian khá dài (một - hai tuần) mới có thê hoàn thành chuyến đi được.