CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH DU LỊCH 1.1 Một số khái niệm chung về chiến lược 1.1 Khái niệm Chiến lược được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc được cái gì đối phương có thể làm và cái gì đối phương có thể không làm được. Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ “Chiến lược kinh doanh” ra đời. Theo cách tiếp cận hiện đại, chiến lược có thể rộng lớn hơn những gì mà doanh nghiệp dự định hay đặt kế hoạch thực hiện. Theo Mintzberg cho rằng “Chiến lược là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết định và chương trình hành động”; Grunig and Kuhn (2005) cho rằng “Chiến lược là tạo ra ưu thế cạnh tranh của ngày mai trước khi các đối thủ kịp sao chép những ưu thế cạnh tranh hôm nay của bạn”; Fredr (2012) cho rằng “Chiến lược là những phương tiện đạt tới mục tiêu dài hạn”.
Porter (1996) cho rằng “Chiến lược là (1) sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt; (2) sự lựa chọn, đánh đổi trong cạnh tranh; (3) tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các tổ chức, công ty”. Qua các cách tiếp cận trên, chúng ta có thể hiểu: Chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp là một nghệ thuật xây dựng mục tiêu dài hạn và các chính sách thực hiện nhằm định hướng và tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.2 Quy trình quản trị chiến lược toàn diện Quản trị chiến lược là thiết lập và tổ chức thực hiện thành công chiến lược đề ra. David thì mô hình quản trị chiến lược toàn diện như sau: 13 Hình 1.1 Mô hình hoạch định chiến lược toàn diện 1.1 Tầm nhìn, sứ mệnh và các mục tiêu Bước đầu tiên của quá trình quản trị chiến lược là xác định sứ mệnh và các mục tiêu chủ yếu của tổ chức. Sứ mệnh và các mục tiêu chủ yếu của tổ chức cung cấp một bối cảnh để xây dựng các chiến lược.
- Sứ mệnh trình bày lý do tồn tại của tổ chức và chỉ ra nó sẽ làm gì. - Các mục tiêu chủ yếu xác định những gì mà tổ chức hy vọng đáp ứng trong phạm vi trung và dài hạn. Hầu hết các tổ chức theo đuổi lợi nhuận, mục tiêu đạt được năng lực vượt trội chiếm vị trí hàng đầu. Các mục tiêu thứ nhì là các mục tiêu mà tổ chức xét thấy cần thiết nếu họ muốn đạt đến năng lực vượt trội.2 Phân tích môi trường bên ngoài (ngoại vi) Bộ phận thứ hai của quá trình quản trị chiến lược là phân tích môi trường hoạt động bên ngoài tổ chức.
Mục tiêu của phân tích môi trường bên ngoài là nhận thức các cơ hội và nguy cơ từ môi trường bên ngoài của tổ chức. Ba loại môi trường bên ngoài 14 có mối liên hệ qua lại với nhau bao gồm: môi trường ngành là môi trường mà trong đó tổ chức vận hành, môi trường quốc gia và môi trường vĩ mô. Việc phân tích môi trường ngành cần một sự đánh giá cấu trúc cạnh tranh trong ngành, bao gồm vị thế cạnh tranh của tổ chức trung tâm và các đối thủ cạnh tranh chính, cũng như các giai đoạn phát triển ngành. Nhiều thị trường hiện nay trở thành thị trường toàn cầu, việc phân tích môi trường ngành cũng có nghĩa là đánh giá tác động của toàn cầu hóa trong cạnh tranh ở phạm vi một ngành (Đào Duy Huân, 2016).
Việc phân tích môi trường quốc gia nhằm xem xét bối cảnh quốc gia mà tổ chức đang hoạt động có tạo điều kiện thuận lợi để giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu hay không. Nếu không, thì tổ chức có thể phải xem xét việc dịch chuyển một bộ phận đáng kể hoạt động của nó tới quốc gia có khung cảnh thuận lợi cho việc đạt lợi thế cạnh tranh. Việc phân tích môi trường vĩ mô bao gồm xem xét các nhân tố kinh tế vĩ mô, xã hội, chính phủ, pháp lý, quốc tế và công nghệ có thể tác động tới tổ chức.3 Phân tích môi trường bên trong (nội vi) Phân tích môi trường bên trong là bộ phận thứ ba của quá trình quản trị chiến lược, nhằm tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức. Chúng ta sẽ tìm xem cách thức tổ chức đạt đến lợi thế cạnh tranh và vai trò của các năng lực khác biệt, các nguồn lực và khả năng tạo dựng, duy trì bền vững lợi thế cạnh tranh, ngược lại các điểm yếu lại có thể đưa đến hiệu suất kém hơn (Đào Duy Huân, 2016).4 Lựa chọn chiến lược Xác định ra các phương án chiến lược ứng với các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ đã xác định của tổ chức.
Sự so sánh các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ thường được gọi là phân tích SWOT. Mục đích cơ bản của phân tích SWOT là nhận diện các chiến lược mà nó định hướng, tạo sự phù hợp hay tương xứng giữa các nguồn lực và khả năng của tổ chức với nhu cầu của môi trường đang hoạt động. Khi thực hiện lựa chọn chiến lược tổ chức phải đánh giá nhiều phương án tương ứng với các khả năng có thể đạt được mục tiêu chính. Các phương án chiến lược được tạo ra có thể bao gồm ở cấp đơn vị kinh doanh, cấp chức năng, cấp công ty hay các chiến lược toàn cầu cho phép tồn tại một cách tốt nhất, thích hợp với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường cạnh tranh toàn cầu như là một đặc điểm của hầu hết các ngành hiện đại (Nguyễn Hữu Lam, 2011).5 Thực thi chiến lược và phản hồi Khi tổ chức đã lựa chọn chiến lược để đạt mục đích của nó, chiến lược đó cần phải đưa vào thực thi.
Chu trình phản hồi trên chỉ ra rằng hoạch định chiến lược là một quá trình liên tục. Khi thực hiện một chiến lược cần phải liên tục giám sát sự thực hiện đó để xác định mức độ đạt được các mục tiêu chiến lược. Các thông tin này sẽ được chuyển trở lại cấp tổ chức thông qua các quá trình phản hồi.3 Vai trò của quản trị chiến lược Về lý thuyết cũng như thực tế cho thấy, trong nền kinh tế toàn cầu hóa, quản trị chiến lược luôn mang lại lợi ích cho tổ chức sau đây: - Giúp tổ chức thấy rõ hướng đi trong tương lai để nhà quản trị xem xét và quyết định nên đưa tổ chức đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới mục tiêu cụ thể nhất định (Nguyễn Hữu Lam, 2011). - Giúp tổ chức thấy rõ cơ hội và nguy cơ xảy ra trong nền kinh tế toàn cầu hóa.
Đồng thời giúp phân tích đánh giá dự báo các điều kiện môi trường trong tương lai, tận dụng cơ hội, giảm nguy cơ đưa tổ chức vượt qua cạnh tranh, giành thắng lợi. - Giúp nhà lãnh đạo đưa ra các quyết định để đối phó từng thời kỳ, nâng cao hiệu quả hoạt động. - Giúp nhà lãnh đạo thiết lập, điều chỉnh chiến lược tốt hơn, thông qua việc sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, tạo cơ sở để tăng sự liên kết giữa các đơn vị trong việc thực hiện mục tiêu dài hạn.4 Các nhóm chiến lược Theo Fred. David (2012) cho rằng, chiến lược áp dụng trong thực tiễn và được chia thành các nhóm sau: - Các chiến lược kết hợp: Chiến lược kết hợp về phía trước, chiến lược kết hợp về phía sau và chiến lược kết hợp theo chiều ngang: Nhằm tăng quyền sở hữu hoặc sự kiểm soát đối với các nhà phân phối, kết hợp tìm kiếm quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát đối với nhà cung cấp và việc xác lập quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát đối với các đối thủ cạnh tranh.
- Các chiến lược chuyên sâu: Chiến lược thâm nhập vào thị trường, chiến lược phát triển thị trường, chiến lược phát triển sản phẩm,… 16 - Các chiến lược mở rộng hoạt động hay đa dạng hóa: Chiến lược đa dạng hóa đồng tâm, chiến lược đa dạng hóa theo chiều ngang, chiến lược đa dạng hóa hỗn hợp. - Các chiến lược suy giảm: Chiến lược cắt giảm chi phí, chiến lược thu lại vốn đầu tư, chiến lược giải thể hay thanh lý. - Các chiến lược khác: Chiến lược liên doanh, chiến lược hỗn hợp, chiến lược đầu tư phát triển.5 Một số mô hình trong hoạch chiến lược 1.1 Mô hình kim cương của MICHAEL PORTER Mô hình kim cương của MICHAEL PORTER (1990), nêu trong tác phẩm Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia lý giải về các yếu tố quyết định sự cạnh tranh của một quốc gia, một ngành trong nền kinh tế. Khả năng cạnh tranh ngày nay nó phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành, của quốc gia đó.
Nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh sang lợi thế cạnh tranh quốc gia, ngành được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trong ngành trên thương trường.2 Mô hình kim cương của M.Porter, 1990 Bốn nhóm nhân tố trong mô hình viên kim cương của M.Porter phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và tác động quan trọng đến việc hình thành và duy trì năng lực cạnh tranh của một ngành kinh tế.2 Mô hình 5 áp lực của MICHAEL PORTER Hình 1.3 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal E. Porter Theo Michael Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau: - Sức mạnh nhà cung cấp thể hiện ở các đặc điểm sau: Mức độ tập trung của các nhà cung cấp; Tầm quan trọng của số lượng sản phẩm đối với nhà cung cấp; Sự khác biệt của các nhà cung cấp; Ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đối với chi phí hoặc sự khác biệt hóa sản phẩm; Chi phí chuyển đổi của các doanh nghiệp trong ngành; Sự tồn tại của các nhà cung cấp thay thế; Nguy cơ tăng cường sự hợp nhất của các nhà cung cấp; Chi phí cung ứng so với tổng lợi tức của ngành. - Nguy cơ thay thế thể hiện ở: Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm; Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng; Tương quan giữa giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế.