CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN VĂN 1.1 KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH, KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH Ngày nay, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay nhận thức về du lịch vẫn chưa thống nhất. Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau. mỗi người có một cách hiểu du lịch khác nhau.
Như vậy có rất nhiều định nghĩa về du lịch. Để có quan hệ kinh tế cả về góc độ kinh tế và kinh doanh du lịch, khoa Du lịch và Khách sạn (Trường Đại học KTQD Hà Nội) đã đưa ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động trên thế giới và Việt Nam trong thập niên gần đây: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú ăn uống. giải trí tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”.
Theo luật du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14/06/2005: "Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định". Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hoá xã hội. Định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa Canada diễn ra vào 7 tháng 6 năm 1991 “ Du lịch là hoạt động con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm.
Ngày nay các công ty du lịch hoặc tập đoàn lớn thường hoạt rất nhiều lĩnh vực liên quan đến du lịch. Họ không những là người bán, người mua các sản phẩm dịch vụ của nhà cung cấp du lịch mà họ còn là người trực tiếp sản xuất ra các sản phẩm du lịch. Các loại hình kinh doanh dịch vụ du lịch bao gồm: - Kinh doanh khách sạn, nhà hàng. - Kinh doanh dịch vụ lữ hành, thông tin hướng dẫn.
- Kinh doanh các dịch vụ vui chơi giải trí. - Kinh doanh vận chuyển du lịch. Các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Như vậy, hệ thống sản phẩm của công ty du lịch rất đa dạng và phong phú.
Trong tương lai nó còn phong phú và đa dạng hơn do dự phát triển mạnh mẽ của nhu cầu du lịch khi đời sống kinh tế xã hội càng cao.2 KHÁI QUÁT VỀ MARKETING 1.1 Khái niệm marketing và marketing dịch vụ Marketing ra đời ở Nhật Bản và Hoa Kỳ trong quá trình tìm kiếm các giải pháp thoát khỏi các bế tắc khủng hoảng thừa của nền kinh tế. Nhìn chung từ marketing đã được quốc tế hóa, dùng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Marketing là một khoa học đang trong quá trình phát triển không ngừng và hoàn thiện. Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về marketing, như: Theo W.J Stanton: Marketing là toàn bộ hệ thống hoạt động kinh tế trong điều kiện nhất định, phản ánh chương trình sản xuất, lưu chuyển hàng hóa, giá cả hay sự 8 biến động giá cả.
Phân phối sản phối sản phẩm và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng hiện tại của khách hàng. Theo Peter Ducke: Marketing là toàn bộ việc kinh doanh theo quan điểm của người tiêu thụ.H Crighton: Marketing là quá trình cung cấp đúng sản phẩm, đúng kênh, đúng luồng hàng, đúng thời gian và đúng vị trí. Philip Kotler được suy tôn là cha đẻ marketing hiện đại của thế giới cũng đưa ra hàng loạt các định nghĩa về marketing: - Marketing có nghĩa là làm việc với thị trường để biến những trao đổi tiềm ẩn thành hiện thực với mục đích là thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người. - Marketing là quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ đó mà cá nhân và tập thể có được những gì mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào hàng và trao đổi những sản phẩm có giá trị với người khác.
- Marketing là một quá trình qua đó một tổ chức quan hệ một cách sáng tạo, có hiệu quả và có lợi cho thị trường. - Marketing là nghệ thuật sáng tạo và thỏa mãn khách hàng một cách có lời. - Marketing là đưa hàng hóa và dịch vụ đến đúng người, đúng địa chỉ, đúng giá và thông tin chính xác cùng với khuyến mại. - Marketing là một hình thức hoạt động của con người hướng vào việc đáp ứng những yêu cầu và nhu cầu của con người thông qua trao đổi.
Theo Hiệp hội marketing Hoa Kỳ (1985): Marketing là quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá xúc tiến và phân phối hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi với các nhóm khách hàng mục tiêu, nhằm thỏa mãn mục tiêu của khách hàng và tổ chức. Như vậy: Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc 9 trao đổi với mục đích thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người. Marketing du lịch là việc vận dụng lý thuyết Marketing vào lĩnh vực du lịch. Marketing du lịch được tiếp cận từ các góc độ khác nhau.
Cách tiếp cận khác nhau tùy thuộc vào ai là chủ thể của hoạt động. Hoạt động marketing du lịch có thể được thực hiện theo ba cấp: Marketing du lịch do cơ quan quản lý nhà nước về du lịch thực hiện, Marketing du lịch do các cơ quan quản lý (đơn vị sự nghiệp) thực hiện và marketing du lịch do các doanh nghiệp thực hiện. Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): Marketing du lịch là một triết ý quản trị, mà nhờ đó tổ chức du lịch nghiên cứu, dự đoán và lựa chọn dựa trên mong muốn của du khách để từ đó đem sản phẩm ra thị trường sao cho phù hợp với mong muốn của thị trường mục tiêu, thu nhiều lợi nhuận cho tổ chức du lịch đó. Từ góc độ quản lý du lịch, marketing du lịch là một bộ phận của marketing được ứng dụng trong lĩnh vực du lịch.
Là sự hội nhập hoạt động của các nhà cung ứng du lịch hướng vào sự thỏa mãn của người tiêu dùng du lịch trên mỗi đoạn thị trường mục tiêu. Từ giác độ kinh doanh du lịch, marketing du lịch là chức năng quản trị của doanh nghiệp, nó bao gồm tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều phải hướng vào mong muốn của thị trường mục tiêu, đảm bảo rằng doanh nghiệp đưa ra thị trường loại sản phẩm tốt hơn và sớm hơn sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh để đạt được mục đích của doanh nghiệp. Marketing du lịch về bản chất là marketing dịch vụ. Như vậy, marketing dịch vụ là tập hợp các chiến lược, phương pháp và phương tiện mà doanh nghiệp dịch vụ sử dụng để thiết lập, duy trì và phát triển mối quan hệ trao đổi giữa các doanh nghiệp dịch vụ với công chúng nhằm có được những hành vi ủng hộ của nhóm công chúng mà doanh nghiệp quan tâm để thực hiện các mục tiêu mà doanh nghiệp dịch vụ đã xác lập.2 Dịch vụ và đặc điểm cơ bản của dịch vụ Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích mà bên này cống hiến cho bên kia và về cơ 10 bản nó vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.
Cũng giống như dịch vụ nói chung, dịch vụ du lịch cũng chứa đựng trong nó bốn đặc điểm cơ bản: - Tính vô hình (intangible): Không hiện hữu, không nhận thức một cách tường minh, tìm kiếm chất lượng thông qua cảm nhận về địa điểm, người phục vụ, trang thiết bị, thông tin, thương hiệu, giá cả. Vì nó là kết quả của một quá trình chứ không phải là một cái gì cụ thể có thể nhìn thấy, đếm, tích trữ và thử được trước khi tiêu thụ. Điều đó không những gây khó khăn cho các nhà cung cấp dịch vụ, trong việc hiểu được cảm nhận của khách hàng mà còn trong cả việc đánh giá chất lượng dịch vụ. - Tính không đồng nhất (heterogeneity): chất lượng không lặp lại, khi tiêu dùng mới cảm nhận được, khó lượng hóa.
Sản phẩm du lịch thường ở cách xa nơi ở thường xuyên của khách do đó cần phải có một hệ thống phân phối thông qua việc sử dụng các trung gian như các cơ quan du lịch, các đại lý bán buôn, bán lẻ, văn phòng du lịch. Sản phẩm du lịch đòi hỏi sự phối hợp, liên kết thống nhất và đồng bộ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhà cung ứng. - Tính không tách rời (inseparability): Không gian, thời gian sản xuất và tiêu dùng trùng nhau; Không tách rời nguồn gốc tạo ra dịch vụ; Không chuyển giao sở hữu, chuyển giao sử dụng. Vì người tiêu dùng thường phải hiện diện và tham gia quá trình thực hiện dịch vụ.
Khách mua một sản phẩm du lịch phải tiêu phí nhiều thời gian tiền bạc trước khi sử dụng nó. Khi mua họ phải được cung cấp đầy đủ thông tin về sản phẩm và việc bán hàng phải được phục vụ nhanh chóng và kịp thời đáp ứng đúng các yêu cầu của họ về chuyến đi. - Tính không thể dự trữ, tồn kho (highly perishable): Không thể dự trữ, không lưu kho, lưu bãi; cung thụ động, khó đáp ứng khi biến động. Trong các sản phẩm là hàng hóa sản phẩm đóng gói bởi bao bì và chuyên chở đến tận tay người tiêu dùng, còn đối với sản phẩm du lịch người ta sẽ mua nó trước khi thấy nó.
Người tiêu dùng phải rời nơi ở thường xuyên đến nơi tạo ra dịch vụ để tiêu dùng. So với các sản phẩm vật chất, sản phẩm du lịch khó có thể nhận thức một cách tường minh. Người 11 mua không thể cân đong, đo đếm, nếm ngửi, sờ mó trước khi mua. Sản phẩm du lịch được bán cho du khách trước khi họ thấy sản phẩm đó.3 Hoạt động marketing của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Quan điểm mở về Marketing trong doanh nghiệp du lịch thể hiện qua các khía cạnh sau: Mọi người trong doanh nghiệp đều làm marketing.