Chương 1 của luận án đi sâu vào một số bình diện: nghiên cứu về khái niệm phẩm chất (PC) học sinh (HS), năng lực (NL) HS và hoạt động trải nghiệm (HĐTN) trong môn Ngữ văn; nghiên cứu về dạy học phát triển PC và NL; nghiên cứu về dạy học phát triển PC, NL HS qua HĐTN trong môn Ngữ văn.1 NGHIÊN CỨU VỀ PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH VÀ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 1.1 Nghiên cứu về phẩm chất học sinh 1.1 Nghiên cứu về khái niệm phẩm chất học sinh PC là tính chất bên trong con người. PC được xem là sự tổng hòa của hai yếu tố tính chất và đặc điểm của con người, cùng với năng lực (NL), PC góp phần hình thành tính cách, nhân cách của con người. Trong tiếng Anh, thuật ngữ PC có thể là quality, personality traits, virtue, attribute, … Liên quan đến khái niệm PC, có nhiều tác giả trong và ngoài nước tiến hành nghiên cứu. Cụ thế hóa nội hàm của khái niệm này, Online Cambridge Dictionary định nghĩa PC là đạo đức (tốt – xấu) của con người.
Theo đó, Humphrey [142, tr.xvi] và Merico [164, tr.2] xem PC như là đặc điểm cần thiết để xây dựng tính cách tốt trong mỗi con người. Đó là một nỗ lực có chủ ý để phát triển tính cách cao quý và trau dồi những đức tính cốt lõi xứng đáng cho cá nhân và xã hội. Mohammad tin rằng: PC liên quan đến đời sống tâm hồn con người [168, tr. Vì thế, phát triển PC nhằm mục đích thúc đẩy học sinh (HS) phát triển đạo đức và hình thành tính cách [137, tr.
Ở Việt Nam, PC được hiểu là “mức độ tương đối giữa cái tốt hoặc cái tuyệt vời về lĩnh vực nào đó” [13, tr.686], là “cái làm nên giá trị của người hay vật” [98, tr.770], là “bản chất tốt đẹp ở con người” [113, tr. PC, theo định nghĩa này, là những thuộc tính, đặc điểm của đối tượng mà căn cứ vào đó người ta có thể đánh giá, xác định giá trị/nhân cách của đối tượng đó. Do vậy, Chương trình (CT) giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 xác định PC có nghĩa là đạo đức [94, tr.11-12], là “những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với NL tạo nên nhân cách con người” [14, tr. Trên cơ sở đối sánh với các nghiên cứu trong và ngoài nước về khái niệm PC, tác giả luận án quan niệm PC HS là những thuộc tính tâm lí bên trong tâm hồn của HS, 12 là thái độ; tư tưởng, tình cảm; hành vi; cách ứng xử của HS được thể hiện qua NL thực hiện một hoặc nhiều hoạt động học tập trong một bối cảnh cụ thể.2 Nghiên cứu về phân loại phẩm chất học sinh Nguyễn Ngọc Bích đã đưa ra hệ thống PC bao gồm: PC về mặt đạo đức và PC về mặt NL [7, tr.
PC về mặt đạo đức bao gồm thế giới quan; lí tưởng bao gồm quan điểm chính trị, lập trường, vai trò xã hội của cá nhân; thái độ và hành vi ứng xử xã hội của cá nhân; thái độ và hành vi đối với người khác, đối với gia đình, đối với xã hội: đoàn thể, nhân dân, Tổ quốc; thái độ đối với lao động; tình cảm và ý chí: Mặt tình cảm: (Tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mĩ); Mặt ý chí (Tính tự chủ, tính cân bằng, tính mục đích, tính dũng cảm, tính hòa nhập). Trong khi đó, PC về mặt NL bao gồm: NL trí tuệ – năng khiếu; NL chuyên môn, tài năng; NL thể chất – tâm lí. Tâm lí học phân biệt PC tâm lí và PC trí tuệ. PC tâm lí gắn liền với “những đặc điểm thuộc tính tâm lí, nói lên mặt đức (theo nghĩa rộng) của một nhân cách” còn PC trí tuệ là “những đặc điểm đảm bảo cho hoạt động nhận thức của một người đạt kết quả tốt, bao gồm những PC của tri giác (óc quan sát), của trí nhớ (nhớ nhanh, chính xác…), của tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ và chú ý.
Trí thông minh là hiệu quả tổng hợp của PC trí tuệ” [38, tr. CT Ngữ văn 2018 xác định năm PC chủ yếu; yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm [95, tr. CT cũng đã cụ thể hóa từng PC mà HS THPT cần đạt được sau khi hoàn thành CT: Yêu nước; nhân ái (yêu quý mọi người; tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người); chăm chỉ (ham học; chăm làm); trung thực; trách nhiệm (có trách nhiệm với bản thân; gia đình; nhà trường và xã hội; môi trường sống) [14, tr. Theo đó, “những nỗ lực của nhà trường có vai trò quan trọng trong việc đạt được các giá trị quan trọng, cốt lõi, đạo đức trong giáo dục PC” [95, tr.3 Nghiên cứu về con đường hình thành phẩm chất học sinh Các yếu tố chính cấu thành PC là ý thức, tình cảm, thuộc tính tâm lí, xu hướng, tính cách, khí chất.
Có 4 nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển PC của HS. Đó là yếu tố bẩm sinh – di truyền, yếu tố hoàn cảnh sống (gia đình, nhà trường và xã hội), yếu tố giáo dục, yếu tố hoạt động cá nhân. Trong bối cảnh nhà trường, theo Đỗ Ngọc Thống, Bùi Minh Đức và Nguyễn Thành Thi (2019), PC của người học được hình thành và phát triển qua hai con đường: Thứ nhất, thông qua nội dung kiến thức của một số môn học. Thứ hai, thông qua 13 phương pháp giáo dục [94, tr.
Vì thế, để phát triển PC cho HS, GV cần tổ chức chuỗi hoạt động học tập (HĐHT) nói chung và HĐTN nói riêng để HS được trải nghiệm, bộc lộ hành vi của mình, từng bước tự điều chỉnh mình, qua đó hình thành và phát triển những PC nhất định. Gắn với bối cảnh gia đình và xã hội, Chu Cẩm Thơ và Trần Thị Hương Giang cho rằng: PC “được hình thành và phát triển thông qua chung sống với người khác, hướng tới các chuẩn mực xã hội và ẩn dụ văn hóa” [95, tr. Nếu NL (tài) được đánh giá bằng hiệu quả của hành động thì PC (đức) được đánh giá bằng hành vi của con người [94, tr. Sự kết hợp giữa ba môi trường gia đình, nhà trường, xã hội và hoạt động cá nhân sẽ góp phần phát triển, hoàn thiện nhân cách cho HS.
Điều này “sẽ giúp HS được nuôi dưỡng dưới tình yêu và sự chăm sóc của nhà trường để phát triển lành mạnh. Với tinh thần trách nhiệm cao, HS sẽ quan tâm và tôn trọng người khác, khi lớn lên các em sẽ trở thành trụ cột của xã hội chúng ta trong tương lai” [95, tr. Môn Ngữ văn có ưu thế trong việc hình thành và phát triển PC cho HS. Ví dụ, khi tổ chức cho HS tìm hiểu về thiên nhiên trong văn học trung đại, giáo viên (GV) “một mặt nhấn mạnh đặc điểm tao nhã, ước lệ với những ‘phong hoa tuyết nguyệt’, ‘sơn thủy hữu tình’, mặt khác cần tạo được tâm thế, niềm vui cho HS như đứng trước một danh thắng, một cảnh đẹp trong những cuộc tham quan, những cuộc dạo chơi ngoài trời” [88, tr.787-788], qua đó, giáo dục giá trị sống, khơi dậy niềm tự hào về cảnh trí non sông và tình yêu quê hương đất nước cho HS.
Hay, khi dạy bài thơ “Đi thi tự vịnh” của Nguyễn Công Trứ, GV có thể tổ chức cho HS chia sẻ những chiêm nghiệm về tác động của bài thơ đối với đời sống tâm hồn của các em, qua đó, khơi dậy ở HS quan niệm về lẽ sống “có hoài bão và quyết tâm thực hiện lí tưởng, sống phải có trách nhiệm trước danh dự bản thân và trách nhiệm trước giang sơn đất nước, sự nghiệp cá nhân phải gắn liền với sự nghiệp chung của dân tộc” [87, tr.2 Nghiên cứu về năng lực học sinh 1.1 Nghiên cứu về khái niệm năng lực học sinh NL là một khái niệm thuộc phạm trù tâm lí học, bắt nguồn từ tiếng Latinh – competentia, có nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Anh, NL có thể được dùng với những thuật ngữ như: competence, competency, ability, capability, … Theo Richey, Fields và Foxon, competence là có đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ [180, tr.31] trong khi 14 competency nhấn mạnh đến việc vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ, hành vi để thực hiện thành công một loại công việc cụ thể [169, tr. Liên quan đến khái niệm NL đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước tiến hành nghiên cứu. Jones và Voorhees định nghĩa NL như một sự kết hợp của các kỹ năng, khả năng và kiến thức cần thiết để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một bối cảnh nhất định [203, tr.
Tremblay, nhà tâm lý học người Pháp quan niệm rằng: NL là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống [188, tr. Còn với Pérez Cañado, NL không chỉ liên quan đến kiến thức, mà còn cả kỹ năng, thái độ, giá trị, và đòi hỏi khả năng thực hiện thành công trong môi trường cá nhân, nghề nghiệp hay xã hội [177, tr. Ở Việt Nam, vấn đề NL cũng đã sớm được đề cập. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “NL là đặc điểm của cá nhân thể hiện ở mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó” [112, tr.
Cùng quan điểm này, Hoàng Hòa Bình cho rằng “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [14, tr. Lê Đình Trung và Phan Thị Thanh Hội có cái nhìn bao quát hơn khi quan niệm: “NL là khả năng con người thực hiện nhiệm vụ được giao một cách có trách nhiệm và hiệu quả bằng hành động để giải quyết các vấn đề trong nhiều bối cảnh khác nhau, thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội, cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm để tạo ra sản phẩm có giá trị, phục vụ cho chính cuộc sống của họ và cộng đồng” [104, tr. CT GDPT 2018 xem NL là “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [14, tr.