phần mở đầu, tổng quan tài liệu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển nuôi trồng thủy sản Chƣơng 2. Đặc điểm địa bàn và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh Phú Yên thời gian qua Chƣơng 4.
Các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh Phú Yên thời gian tới 7. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án Luận án tổng quan nghiên cứu của khoảng 70 công trình bằng tiếng Việt và tiếng Anh thuộc lĩnh vực NTTS từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, tại Việt Nam và các địa phƣơng của nƣớc ta. Các nghiên cứu chủ yếu thuộc giai đoạn từ 2001 đến 2017, trong đó các nghiên cứu lý thuyết có thời gian xa hơn trong khi các nghiên cứu thực nghiệm là các nghiên cứu gần đây. Các vấn đề thiết yếu liên quan đến ngành và luận án đƣợc tác giả trình bày nhƣ sau: 7.
Các nghiên cứu chỉ ra tầm quan trọng của phát triển NTTS trong nền kinh tế Sự phát triển của thủy sản và NTTS đã góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo an ninh lƣơng thực, thực phẩm quốc gia. Các tác giả Hà Xuân Thông (2004), Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2014), FAO, Vasep đều cho rằng: thủy sản đƣợc đánh giá là nguồn cung cấp đạm quan trọng cho ngƣời dân, là nguồn thực phẩm an toàn có giá trị dinh dƣỡng cao. Cá là nguồn cung cấp dinh dƣỡng cân bằng quan trọng và tốt cho sức khỏe, cung cấp protein động vật cho phần lớn dân số thế giới. Nhƣ vậy, sự phát triển của thủy sản và NTTS đã góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo an ninh lƣơng thực, thực phẩm quốc gia.
Nhờ sự phát triển của NTTS đã giúp giảm áp lực từ khai thác trong tự nhiên. Nguồn cung từ cá đã vƣợt qua tốc độ tăng trƣởng dân số toàn cầu. Nhu cầu sản phẩm từ cá tăng lên nhanh chóng một mình ngành đánh bắt tự nhiên không thể đáp ứng nhu cầu này, phát triển NTTS đáp ứng một phần nhu cầu trên [82]. NTTS phát triển kéo dài liên tục nhờ đó bù lại sản lƣợng ngành khai thác bị giảm sút [35].
Còn 7 Pablo Trujillo cho rằng: nhu cầu sản phẩm từ cá tăng lên tuy nhiên một mình ngành đánh bắt tự nhiên không thể đáp ứng nhu cầu này cho thấy tầm quan trọng của NTTS đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thủy sản. Đóng góp của ngành NTTS vào thu nhập quốc dân, tăng thu nhập cho quốc gia và từng đối tƣợng tham gia vào ngành NTTS. Sản xuất thủy sản đem nhiều lợi nhuận hơn so với các mặt hàng nông nghiệp khác. Nhờ các giá trị sản phẩm mà chúng lại góp phần vào gia tăng GDP, đóng góp vào phát triển cho nền kinh tế [35], [52].
Theo FAO, NTTS phát triển giúp tăng nguồn thu chính phủ thông qua các hiệp hội nghề cá và các loại thuế liên quan đến sản phẩm mà NTTS tạo ra. Cũng theo FAO, thủy sản là loại thực phẩm được giao dịch quốc tế nhiều nhất, trong đó các nước đang phát triển tiếp tục chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu trên thế giới. Do đó làm tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ, phát triển thƣơng mại quốc tế góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, giúp các nƣớc phát triển thƣơng mại quốc tế [1], [35]. Các nghiên cứu Thủy sản ngành kinh tế mũi nhọn (2004), Giải pháp kinh tế và quản lý môi trƣờng cho phát triển nuôi trồng thủy sản các huyện phía Nam thành phố Hà Nội (2014) đều thống nhất: phát triển NTTS tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật, cải tạo cơ sở hạ tầng bƣớc đầu quan trọng đóng góp vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nƣớc.
NTTS với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra cơ hội việc làm và thu hút một lực lƣợng lao động đông đảo tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất nhƣ chế biến, tiếp thị, phân phối làm giảm sức ép thiếu việc làm [1], tránh áp lực di dân đến các vùng đô thị vốn đã đông đúc [35]. Ngoài ra theo Pablo Trujillo, phát triển NTTS giúp cải thiện sinh kế cộng đồng ven biển. Khi ngành NTTS phát triển sẽ giúp cho các ngành cung cấp đầu vào hay đầu ra của chúng phát triển theo. Theo Commission to the European Parliament and the council: phát triển NTTS tạo điều kiện phát triển các ngành liên quan: thú y, công nghệ gen, công nghiệp thức ăn, thuốc, thiết bị.
8 Ngành NTTS chủ yếu tổ chức ven biển, khi phát triển NTTS giúp cho cộng đồng nơi đây giàu lên từ đó giúp củng cố an ninh quốc phòng đặt biệt là phòng thủ ven biển đây là quan điểm của Lâm Văn Mẫn (2006). Các nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của phát triển nuôi trồng thủy sản gắn với yêu cầu phát triển bền vững Đứng trƣớc nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm, việc phát triển mang tính bền vững cần thiết phải đƣợc đặt ra trên toàn thế giới. Trong đó nuôi trồng thủy sản ngành công nghiệp của tương lai nên được đi đầu trong phát triển bền vững [75]. Các nghiên cứu về phát triển bền vững trong NTTS thừa nhận: Phát triển bền vững NTTS dựa trên 3 yếu tố: kinh tế - môi trƣờng - xã hội.
(1) Vấn đề kinh tế xoay quanh: lợi nhuận, nhu cầu thị trƣờng, tính hiệu quả trong nuôi trồng. (2) Yếu tố môi trƣờng tập trung vào: nƣớc và năng lƣợng đƣợc sử dụng, chất lƣợng nƣớc, kiểm soát chất thải. (3) Về lợi ích xã hội là: tạo việc làm, mối quan tâm của địa phƣơng nhƣ cƣ trú, quyền sở hữu, tính thẩm mỹ, tài chính, chuỗi cung ứng, đây chính là ý kiến của William A. NTTS bền vững phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với cộng đồng thế giới, đảm bảo lợi ích lâu dài cho ngƣời nuôi.
NTTS bền vững đƣợc nhìn nhận: đảm bảo lợi ích lâu dài và một nghề cá có trách nhiệm mà nước ta đã cam kết với cộng đồng quốc tế. Tránh được sự suy thoái và đình truệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ mai sau [35]. Đảm bảo quyền lợi của cộng đồng dân cư hưởng lợi của nguồn lợi thủy sản, cân bằng hưởng dụng nguồn lợi của các thế hệ, góp phần xóa đói giảm nghèo nông ngư dân [20]. Phát triển bền vững phải đảm bảo bảo tồn nguồn lợi trong thiên nhiên, đặc biệt là nguồn lợi từ biển.
Theo tổ chức Greenpeace: NTTS bền vững là phấn đấu theo hƣớng sử dụng thức ăn thực vật và áp dụng phƣơng pháp canh tác bền vững. Tránh sử dụng thức ăn bằng bột cá hoặc thức ăn dựa trên dầu cá từ khai thác quá mức thủy sản trong tự nhiên, cũng không sử dụng các con giống chƣa trƣởng thành bị bắt trong tự nhiên. Không tác động tiêu cực đến động vật hoang dã hoặc nguy hại đối với quần thể hoang dã, tránh làm cạn kiệt nguồn tài nguyên địa phƣơng. 9 Phát triển NTTS bền vững là phải đảm bảo phát triển đồng bộ của những ngành khác có sử dụng chung nguồn tài nguyên nƣớc.
Đây là quan điểm của 2 tác giả Lâm Văn Mẫn và Nguyễn Quốc Định khi cho rằng: Tối ƣu hóa việc sử dụng đa mục tiêu các hệ thống tài nguyên biển và đất ngập nƣớc liên quan tới thủy sản, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích và các tác động của các ngành khác đến tính bền vững của nguồn lợi thủy sản. Sức khỏe ngƣời dùng sản phẩm phải đƣợc đảm bảo đó là tiêu chí quan trọng của phát triển bền vững NTTS. Các tác giả Nguyễn Quốc Định, Nguyễn Văn Quỳnh Bôi, Pablo Trujillo chỉ ra nhƣ sau: Sản phẩm ngành nuôi trồng tạo ra không đe dọa sức khỏe con người bằng việc sản xuất ra sản phẩm sạch, quá trình vận chuyển, chế biến và tiêu thụ đảm bảo các điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhƣ vậy, phát triển NTTS bền vững đó là phát triển đồng bộ trên cả 3 trụ cột: kinh tế - môi trƣờng - xã hội.
Các nghiên cứu làm rõ tác động của toàn cầu hóa đến phát triển nuôi trồng thủy sản về khía cạnh kinh tế Sản phẩm từ ngành NTTS đƣợc giao dịch nhiều không chỉ trong nƣớc mà trên thị trƣờng quốc tế, do vậy toàn cầu hóa sẽ tác động đến sự phát triển của ngành. Tự do hóa thƣơng mại ảnh hƣởng đến NTTS vì giá thủy sản trong nƣớc thay đổi theo giá thế giới, thị trƣờng mở rộng nhƣng đồng thời cạnh tranh cũng gay gắt, thị trƣờng quốc tế yêu cầu khắt khe về chất lƣợng, vệ sinh an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc [24]. Các điều kiện trên vừa thúc đẩy vừa tạo nên những khó khăn nhất định cho phát triển ngành. Tranh chấp thƣơng mại đem đến nhiều thách thức cho các nƣớc đang phát triển.
Theo nghiên cứu: Hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ nay đến năm 2020 (2006) của Nguyễn Xuân Minh: các rào cản phi thuế quan ngày càng đƣợc áp dụng rộng rãi, các tranh chấp thƣơng mại diễn ra nhiều hơn. Trong đó, tôm và cá da trơn của nƣớc ta phải đối mặt với các quy định này thƣờng xuyên. 10 Các giải pháp phát triển NTTS mà các tác giả đƣa ra trong bối cảnh toàn cầu hóa đó là: phát triển gắn với bảo vệ môi trường, tập trung quy mô lớn, nuôi TC công nghiệp và hiện đại [24] lúc này sản phẩm mới có khả năng cạnh tranh về chất lƣợng và giá. Để đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm NTTS của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa cần các giải pháp: xây dựng, quảng bá thương hiệu thủy sản Việt Nam, đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu.
Hình thành liên kết kinh tế chặt chẽ trong chuỗi giá trị thủy sản xuất khẩu. Để cung cấp thủy sản an toàn “từ ao nuôi đến bàn ăn” cần phải phát triển các vùng nuôi an toàn, sạch bệnh, triển khai Quy phạm thực hành nuôi tốt GAP. Chú trọng phát triển sản phẩm mới, sản phẩm có giá trị gia tăng cao [37]. Các nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển NTTS Có rất nhiều nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển NTTS, qua nghiên cứu tổng quan tác giả nhận thấy có nhiều góc độ tiếp cận các nhân tố khác nhau.