Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở nước ngoài 1. Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở một số nước trên thế giới Ngô Quý Tùng (2001), Kinh tế tri thức - xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI (La Phong dịch) [137].
Trên cơ sở nghiên cứu nền kinh tế Trung Quốc và xu thế phát triển của nền kinh tế toàn cầu, tác giả cho rằng, trong tương lai “ai chiếm được điểm cao về công nghệ sinh học thì có quyền phát ngôn lớn hơn trong việc giải quyết các vấn đề trọng đại của thế giới” [137, tr. Vì vậy, phát triển CNSH trong nông nghiệp là xu thế và cũng là đòi hỏi cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực trước sự gia tăng của dân số thế giới. Với xu thế đó, tác giả dự đoán: đến năm 2008, ngành nông nghiệp dùng kỹ thuật gen để tạo ra cây trồng cho sản lượng cao, có khả năng kháng bệnh và giàu dinh dưỡng sẽ được ứng dụng ở các nước đang phát triển và đến năm 2015, “kỹ thuật canh tác nông nghiệp bằng máy móc sẽ thay thế kỹ thuật canh tác nông nghiệp truyền thống” [137, tr.112], các kỹ thuật nông nghiệp như gieo mạ, tưới tiêu, bón phân và sát trùng được điều khiển bằng máy vi tính, các phương pháp nuôi trồng cây không có đất đều sẽ được áp dụng. Dan Senor và Saul Singer (2015), Quốc gia khởi nghiệp [17].
Cuốn sách mô tả về những câu chuyện thần kỳ, những thành tựu nổi bật trên nhiều lĩnh vực của đất nước Israel, trong đó thành tựu trên lĩnh vực nông nghiệp được coi là hết sức kỳ diệu. Diện tích hạn hẹp với 95% đất đai bị xếp vào nhóm bán khô hạn, khô hạn và rất khô hạn nhưng “Israel vẫn trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu về nông nghiệp” [17, tr. Cốt lõi để làm nên những thành tựu 12 “kỳ diệu” trên là do Israel đã chú trọng ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp. Một trong những thành tựu nổi bật là công nghệ tưới nhỏ giọt của Simcha Blass.
Nhờ công nghệ tưới nhỏ giọt và nhà lưới mà người Israel đã biến sa mạc Negev thành những cánh đồng và khu rừng xanh tươi. Cùng với yếu tố công nghệ, nông trang (kibbuzt) là yếu tố đặc thù và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nông nghiệp Israel. Tác giả làm rõ vai trò của việc ứng dụng tiến bộ KH-CN đối với thúc đẩy tăng trưởng nền nông nghiệp Austraulia. Trong những thành tựu về KH-CN, tác giả đặc biệt phân tích về vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong sản xuất nông nghiệp để dần hình thành nền “nông nghiệp kỹ thuật số” [8, tr.208]; vai trò của ứng dụng công nghệ di truyền trong tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi có khả năng kháng bệnh cao.
Theo tác giả, để đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KHCN vào sản xuất nông nghiệp, cần phải có sự hợp tác giữa Chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội dân sự trong đầu tư phát triển và chia sẻ chi phí. Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở các nước Đông Dương có bài viết Tăng cường chính sách phát triển nông nghiệp ở Campuchia của tác giả Chou Chadary, bài viết Một số chính sách và biện pháp thúc đẩy phát triển nông thôn dựa vào nông nghiệp công nghệ cao ở Lào của tác giả Bounthong Bouahom được in trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về đẩy mạnh phát triển nông thôn tại tiểu vùng Mê-Kông dựa trên nông nghiệp công nghệ cao và du lịch bền vững [201] do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức tại tỉnh Lâm Đồng vào năm 2015. Các tác giả đã khẳng định, nông nghiệp có vai trò “chủ đạo” trong quá trình phát triển KT-XH của Lào và Campuchia. Trên cơ sở nhận thức vai trò của ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, các tác giả đều nhấn mạnh tính tất yếu phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao 13 nhằm đem lại hiệu quả KT-XH cho đất nước của họ.
Theo Chou Chadary, “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp và sản xuất quy mô lớn là con đường duy nhất để hiện đại hóa, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị nông sản” [201, tr. Các nghiên cứu của tác giả trong nước về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở một số nước trên thế giới Phạm S (2014), Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là yêu cầu tất yếu để hội nhập quốc tế [67]. Cuốn sách đã khái lược những thành tựu nổi bật về công nghệ, sản phẩm chủ lực và hiệu quả kinh tế từ mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của các nước có nền nông nghiệp hiện đại trên thế giới. Cụ thể: Nông nghiệp Hà Lan: Mặc dù là nước có diện tích đất canh tác thuộc nhóm thấp nhất của thế giới, lao động nông nghiệp ít (chỉ chiếm 3,6% lao động xã hội), nhưng nhờ ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đã đưa Hà Lan trở thành một trong những nước có nền nông nghiệp phát triển bậc nhất thế giới, với nhiều mặt hàng xuất khẩu đứng đầu thế giới.
Nền nông nghiệp Hà Lan được ứng dụng cơ giới hóa hoàn toàn các khâu canh tác cùng với công nghệ nhà kính hiện đại. Bên cạnh yếu tố ứng dụng công nghệ, sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Hà Lan còn nhờ vai trò của các doanh nghiệp trong việc chú trọng hoạt động nghiên cứu. Theo tác giả, đây là một yếu tố quan trọng để “công nghệ cao trong nông nghiệp của Hà Lan luôn đổi mới, sáng tạo không ngừng” [67, tr. Nông nghiệp Bỉ: Nhờ chính sách phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nên chỉ trong vòng 10 năm (2003 - 2013) giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng 20% trong khi số lượng nông dân giảm 30%.
Thành tựu về phát triển nông nghiệp ở Bỉ có vai trò rất lớn các cơ quan và viện nghiên cứu nông nghiệp. Đặc biệt, sản xuất nông nghiệp của Bỉ có tính chuyên canh cao và chỉ tập trung sản xuất các loại cây trồng mang tính đặc trưng, có thế mạnh để hướng đến xuất khẩu như hoa thu hải đường, đỗ quyên, azaleas. Nông nghiệp Hàn Quốc và Đài Loan đã có bước phát triển vượt bậc nhờ Chính phủ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, nhất là CNSH. Chính phủ Hàn 14 Quốc lựa chọn phát triển CNSH “làm khâu đột phá” [67, tr.
Nét nổi bật mang tính đặc thù trong tổ chức sản xuất nông nghiệp ở Hàn Quốc là chú trọng phát triển mô hình HTX đa mục tiêu. Ngoài yếu tố công nghệ, thành công của nông nghiệp công nghệ cao Đài Loan có vai trò đặc biệt quan trọng của Nhà nước thông qua công tác xây dựng và quản lý quy hoạch. Nhà nước không chỉ quy hoạch mang tầm chiến lược mà còn chú ý đến từng việc nhỏ như: nhà lưới cao cấp trồng các loại hoa có giá trị cao thì dựng nhà kính màu đen, cây ăn trái thì màu xanh, rau thì nhà màng phủ ni lông màu trắng. Thống nhất quy ước như trên đã tạo nên sự dễ dàng trong điều tra, quy hoạch các loại cây trồng.
Nông nghiệp Nhật Bản: Mặc dù là một quốc gia có diện tích bình quân đầu người thấp nhất thế giới (0,036 ha/người) nhưng Nhật Bản trở thành nước có nền nông nghiệp phát triển cao với nhiều cây trồng, vật nuôi có giá trị. Để có kỳ tích trên, Nhật Bản đã chú trọng đầu tư, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin. Nhật Bản coi “công nghệ thông tin là khâu đột phá ứng dụng công nghệ cao” [67, tr.92] và đã áp dụng nó trong rất nhiều các công đoạn của sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp Thái Lan: Nhờ chính sách của Chính phủ về khuyến khích hỗ trợ thành lập các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ về KH-KT trong nông nghiệp và đầu tư CNSH trong chọn, tạo giống cây trồng vật nuôi có ưu thế, nông nghiệp Thái Lan đã cho ra đời nhiều nông sản có chất lượng cao, được thị trường thế giới ưa chuộng như gạo, hoa ôn đới và các giống cây ăn quả có đặc tính trái ngược với bản chất giống (me ngọt, xoài ngọt, chôm chôm tróc, sầu riêng hạt lép,…).
Tác giả đã chỉ ra các giải pháp công nghệ cũng như chính sách cốt lõi của mỗi nước trong ứng dụng công nghệ cao để tạo ra những thành tựu mang tính đột phá trong phát triển nông nghiệp như: phương thức chìa khóa trao tay của chính phủ Isreal; sử dụng thiết bị tưới tiêu công nghệ 15 cao, sử dụng máy kéo tự lái kết hợp với công nghệ GPS trong bón phân, thu hoạch của Mỹ; ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất nông nghiệp của Ấn Độ; xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao với 3 đặc trưng cơ bản và 5 chức năng chủ yếu của Trung Quốc. Từ những thành tựu tiêu biểu của các nước có nền nông nghiệp tiên tiến, tác giả đã rút ra một số bài học đối với Việt Nam trong định hướng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Các công trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở trong nước 1. Các công trình nghiên cứu về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên phạm vi cả nước Nghiên cứu về lý luận nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có Nguyễn Văn Bộ (2007), Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam [203].
Trên cơ sở khẳng định: Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất là yêu cầu tất yếu nhằm phát triển nông nghiệp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, tác giả đã đưa ra khái niệm và những đặc trưng của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Theo tác giả, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là “nền nông nghiệp mà ở đó các loại hình công nghệ cao (cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ thông tin, vật liệu mới và công nghệ sinh học) được ứng dụng tổng hợp theo một quy trình khép kín, hoàn chỉnh, nhằm khai thác hiệu quả nhất tài nguyên tự nhiên (đất đai, khí hậu) và tiềm năng của giống để đạt năng suất và chất lượng sản phẩm cao nhất một cách bền vững” [203, tr.