Chương 1: Những vấn đề l luận cơ ản về phát triển nguồn nh n lực hành chính Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nh n lực hành chính cấp xã, tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nh n lực hành chính cấp xã, tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến. T ng quan tài iệu nghiên cứu Phát triển nguồn nh n lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mọi t chức và đã trở thành chủ đề quan t m của không chỉ nhiều chính phủ mà cả các nhà nghiên cứu ở các nước trên thế giới. Tại các nước đang phát triển, nguồn lực này được đặc iệt quan t m chính vì những ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì thế, trong thời gian qua có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này.
Dưới đ y là một số nghiên cứu, công trình khoa học trong và ngoài nước mà tác giả có thể xem xét được để qua đó làm cơ sở hình thành phạm vi nội dung nghiên cứu cho đề tài, như: Luan van 4 6. C c nghiên cứu nguồn nhân lực ở nước ngoài Nghiên cứu của Stephen Smith cho rằng đào tạo nói chung có 2 loại hình gồm: Đào tạo chung và Đào tạo chuyên iệt hay đặc thù. Đào tạo chung cung cấp những kỹ năng chung cho người học để họ có thể làm việc trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Còn đào tạo đặc thù hay chuyên iệt lại cung cấp cho người học những kỹ năng nhất định và chuyên s u để họ có thể làm việc trong một lĩnh vực nào đó với những điều kiện làm việc cụ thể và chuyên iệt, họ vì vậy không thể làm việc hay di chuyển sang lĩnh vực công việc khác.
Nhưng ù lại họ là những chuyên gia trong lĩnh vực của mình mà nhờ đó có năng suất cao hơn. Theo lập luận này việc đào tạo cho nh n viên khu vực công cũng nên chia thành 2 mảng đào tạo tùy theo tính chất công việc nhưng cần chú trọng tới đào tạo chuyên s u để có thể n ng cao được chất lượng của các dịch vụ công. Nghiên cứu của George Borjas quan t m tới những ảnh hưởng của hệ thống đào tạo cán ộ cho khu vực công khi khẳng định hoạt động này góp phần tích lũy vốn con người cho nh n lực khu vực công. Ông cho rằng đó cũng là nguồn vốn vô hình - nguồn lực rất quan trọng của nền kinh tế thông qua chất lượng của các dịch vụ công.
Một nghiên cứu khác rất đáng quan t m là của Nagel, Stuart S. Nghiên cứu này tập trung vào xem xét việc đào tạo nh n viên hành chính công của nhiều nước khác nhau ở Ch u Á, Ch u Âu, Ch u Mỹ Latin, Trung Đông và Bắc Mỹ. Nghiên cứu không chỉ xem xét mục đích đào tạo - kỹ năng cho một nhân viên hành chính công hay quản l tài chính công… mà còn chú nghiên cứu phương pháp đào tạo khác nhau ở nhiều nước. Đào tạo trong các trường chính quy ở những nơi có điều kiện vẫn là hình thức có thể đem tới cho người học những kỹ năng hoàn thiện và tốt hơn so với hình thức đào tạo án thời gian và không chính quy.
Tuy nhiên, với điều kiện giới hạn nguồn lực thì đào Luan van 5 tạo tại chỗ vẫn cần thiết. Việc đào tạo cho nh n viên hành chính công ở các nước đang phát triển cũng được sự quan t m và hỗ trợ nhiều của các t chức quốc tế và chính phủ các nước công nghiệp phát triển. L luận về giá trị sức lao động của C.Mác (Nhà kinh tế học người Đức, 1818-1883) cũng đã đánh giá cao vai trò của giáo dục đối với sự phát triển sức sản xuất khi khẳng định rằng giá trị sức lao động thể hiện trong toàn ộ nh n cách sinh động của con người.Mác cho rằng sức lao động ao gồm: “Toàn ộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”[20]. Như vậy, sức lao động không chỉ mang đặc trưng vật chất (yếu tố thể chất) mà còn mang cả đặc trưng xã hội (trí tuệ và thức xã hội).
Trong đó hệ thống nh n tố trí tuệ và thức xã hội có nghĩa quyết định đối với sự phát triển của sức lao động.Mác viết: “Một lao động được coi là cao hơn, phức tạp hơn so với lao động xã hội trung ình thì nó là iểu hiện của một sức lao động đòi hỏi những chi phí cao hơn. Người ta phải tốn nhiều thời gian lao động hơn để tạo ra nó và vì vậy, nó có một giá trị cao hơn so với sức lao động giản đơn”[19]. Ngày nay, khi khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế và phát triển ền vững, thì vai trò của nguồn nh n lực chất lượng cao ngày càng trở nên quan trọng. Trong tác phẩm "Đầu tư vào tương lai" (Investing the future), Jacques Hallak (chuyên gia cấp cao về giáo dục tại Viện Kế hoạch hóa quốc tế) đã nêu lên 5 nguồn phát năng cho sự phát triển nguồn lực con người, đó là: giáo dục, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm, tự do chính trị và kinh tế.
Theo Ông những nguồn này gắn ó với nhau nhưng giáo dục là nh n tố quan trọng nhất. Thực tế cho thấy quốc gia nào quan t m đến giáo dục và đào tạo thì quốc gia đó có nguồn nh n lực chất lượng cao, tạo điều kiện cho phát triển Luan van 6 kinh tế xã hội của đất nước. C c nghiên cứu nguồn nhân lực trong nước PGS.TS Phan Văn Kha trong nghiên cứu về "Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam", đã cho rằng phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển nguồn lực con người từ dạng tiềm năng thành vốn con người, vốn nhân lực và chuyển vốn này vào hoạt động kinh tế - xã hội. Xét về cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là việc nâng cao sức khỏe, trí tuệ, đạo đức, năng lực chuyên môn, sự lành nghề, kỹ năng thực hành để tăng năng suất lao động, tăng thu nhập và cải thịên chất lượng cuộc sống.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh trong tác phẩm "Nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước" thì phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về số lượng và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý.TS Bùi Văn Nhơn (năm 2005) “Các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” Học viện Hành chính Quốc gia, đã đề cập vị trí, vai trò của đội ngũ công chức hành chính trong ối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang diễn ra mạnh mẽ với những thời cơ, vận hội và thách thức mới đang nảy sinh, đòi hỏi công tác cán ộ phải có những chuyển iến mới.
Đặng Công Ngữ, Giám đốc Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng (năm 2007) “Giải pháp quản lý và phát triển đội ngũ CB, CC, VC của thành phố Đà Nẵng đến năm 2015”, trong đó xác định vai trò của đội ngũ cán ộ, công chức và yêu cầu của tiến trình cải cách hành chính, x y dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của d n, do d n và vì d n; hệ thống hoá thể chế quản l và đánh giá thực trạng đội ngũ cán ộ, công chức của thành phố Đà Nẵng; dự áo các yêu cầu đối với công tác quản l và phát triển đội ngũ cán ộ, công chức từ nay đến năm 2015; đề xuất các giải pháp phục vụ cho việc hoạch định các Luan van 7 chính sách, thực hiện các iện pháp để n ng cao hiệu quả quản l và phát triển đội ngũ cán ộ, công chức của thành phố Đà Nẵng.TS Võ Xu n Tiến (2007)“Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính cấp quận (huyện), phường (xã) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, trong đó đã đánh giá một cách đứng đắn hiện trạng đội ngũ cán ộ hiện có trong các cơ quan hành chính cấp quận (huyện), phường (xã) trên địa àn thành phố Đà Nẵng, mà chủ yếu là cán ộ chủ chốt. Trên cơ sở đó đề xuất những iện pháp có tính khoa học, khả thi để x y dựng và phát triển nguồn nh n lực đủ sức hoàn thành nhiệm vụ chính trị của thành phố theo yêu cầu hiện nay.TS Võ Xu n Tiến, năm(2009): “Giải pháp ĐT nguồn nhân lực cho một số ngành kinh tế - kỹ thuật và ngành công nghệ cao trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” cùng các thành viên đã làm rõ một số vấn đề l luận về nguồn nh n lực, chất lượng nguồn nh n lực và n ng cao chất lượng nguồn nh n lực; luận giải một cách khoa học nguồn nh n lực chất lượng cao là động lực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn, tiếp cận kinh tế trí thức ở Việt Nam; khảo sát, nghiên cứu thực trạng chất lượng nguồn nh n lực ở thành phố Đà Nẵng, ph n tích làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của chất lượng nguồn nh n lực đó, đưa ra những giải pháp khả thi nhằm khắc phục những hạn chế về mặt chất lượng nguồn nh n, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác ĐT nguồn nh n lực cho một số ngành kinh tế - kỹ thuật và ngành công nghệ cao tại thành phố Đà Nẵng. Nghị định số 92/2009/NĐCP ngày 22/10/2009 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc an hành quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán ộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, phường, thị trấn. Đề án tuyển chọn, đào tạo nguồn cán ộ chủ chốt xã, phường, thị trấn Luan van 8 trên địa àn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2016.
Đ y là một trong những chương trình đột phá để n ng cao chất lượng nguồn nh n lực, nhất là đội ngũ cán ộ lãnh đạo, quản l , cán ộ khoa học - kỹ thuật.