CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1. Một số khái niệm sử dụng nghiên cứu luận văn: 1. Trường trung cấp nghề và giáo viên dạy nghề - Dạy nghề trình độ trung cấp: Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. - Trường trung cấp chuyên nghiệp: Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) là đơn vị cơ sở GD – ĐT của bậc Trung cấp chuyên nghiệp thực hiện chức năng dạy nghề.
Chương trình học, dạy nghề dành cho người không có đủ điều kiện vào Đại học, Cao đẳng. Trường đào tạo trung cấp chuyên nghiệp từ 3 đến 4 năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, và từ 1 đến 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông. Trường TCCN là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.
Toàn bộ khung chương trình được xây dựng do Bộ Giáo dục thẩm định và ban hành. Cũng như các bậc học khác, quy chế đào tạo khung chương trình hệ trung cấp chuyên nghiệp cũng được quy định về học phần, thời gian đào tạo, tổ chức giảng dạy, chuyên ngành đào tạo, công nhận và cấp bằng tốt nghiệp, quản lý hồ sơ và tài liệu đào tạo, chế độ báo cáo và xử lý vi phạm… 9 Sự khác nhau giữa Trường TCCN và Trung cấp nghề (TCN): Về cơ bản, thực chất hai hệ này khá giống nhau về chương trình đào tạo, cơ hội nghề nghiệp, cơ hội liên thông trung cấp nghề cũng được liên thông lên đại học. Khác nhau về chủ thể quản lý: TCN trực thuộc Sở LĐTBXH các tỉnh, thành quản lý; TCCN trực thuộc Sở GD&ĐT các tỉnh, thành quản lý (Hiện nay đều thuộc quản lý của Sở Lao động Thương binh và Xã hội các tỉnh/thành); TCCN học sinh được trang bị lý thuyết nhiều hơn, trong khi TCN học sinh được học thực hành nhiều hơn. - Giáo viên trường trung cấp chuyên nghiệp Trong thực tế, giáo viên trường trung cấp chuyên nghiệp thuộc hệ thống giáo viên dạy nghề tại các cơ sở đào tạo này.
Giáo viên dạy nghề phải có các tiêu chuẩn sau đây:a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; b) Đạt trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề: (1) Giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao; (2) Giáo viên dạy lý thuyết trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;(3) Trường hợp những giáo viên quy định tại các điểm 1, 2 của khoản này không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ sư phạm dạy nghề; (4) Các chuẩn nghề nghiệp khác của giáo viên dạy nghề được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; (c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; (d) Lý lịch bản thân rõ ràng. - GV được Nhà nước bảo đảm các quyền: Được bảo đảm về mặt tổ chức và vật chất kỹ thuật cho các hoạt động nghề nghiệp; Được quyền lựa chọn giáo trình, tài liệu tham khảo, phương pháp và phương tiện giảng dạy; Được ký hợp đồng giảng dạy, KH&CN với các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu và các tổ chức 10 kinh tế khác; Được đăng ký xét công nhận các chức danh học hàm và danh hiệu cao quí của Nhà nước; Được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; Được tham dự các hội nghị, hội thảo khoa học trong và ngoài nước. Nguồn nhân lực giáo viên các trường trung cấp chuyên nghiệp Khi nói đến NNLGV, ta phải hiểu và xem xét trên quan điểm toàn diện và hệ thống. Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà các thành tố trong đó có mối quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế, qui ước nhất định nào đó.
Nếu xét trên phương diện nguồn nhân lực thì NNLGV chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, và NNLGV có những đặc điểm sau: - Những thành viên trong nguồn nhân lực đã được tuyển chọn tương ứng với một hệ thống các tiêu chí về tư tưởng, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và năng lực nghề nghiệp; - Các thành viên được liên kết với nhau trên cơ sở thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng mà Nhà nước đã giao phó đối với hoạt động đào tạo; - Mỗi thành viên, mỗi bộ phận của nguồn nhân lực thực hiện những chức trách và nhiệm vụ chuyên biệt tùy thuộc vào vị trí và đặc điểm của môi trường hoạt động, song đều chịu sự quản lý thống nhất về thể chế, về tổ chức, về chuyên môn theo qui định của Nhà nước; Như vậy, theo chúng tôi, NNLGV là tập hợp những người làm nhà giáo, nhà khoa học, được tổ chức thành một lực lượng cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu đào tạo đã đề ra ở các trường. Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của pháp luật, thể chế xã hội. Phát triển nguồn nhân lực giáo viên dạy nghề. Trong suốt quá trình phát triển giáo dục nói chung và dạy nghề nói riêng, người thầy luôn được khẳng định có vai trò then chốt đối với chất lượng đào tạo.
Do vậy, những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm và đưa ra nhiều chủ 11 trương về phát triển đội ngũ nhà giáo trong đó có đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề (GVDN). Chỉ thị 40- CT/TW ngày 15-6-2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) đã nêu rõ: "Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu. Khẩn trương đào tạo, bổ sung và nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục trong các trường dạy nghề. Mở rộng hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khoá X) của Đảng nhấn mạnh: “Chú trọng đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề. Củng cố và mở rộng các trường đào tạo giáo viên dạy nghề theo khu vực trên phạm vi cả nước”. Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi xin đề cập công tác phát triển đội ngũ GVDN, vấn đề lâu nay đã được quan tâm nhưng vẫn còn bất cập và nhiều thách thức trong bối cảnh mới. Phát triển NNLGV là một phạm trù động, phải đáp ứng được yêu cầu biến đổi của cả hiện tại và tương lai.
Vì thế, cần quán triệt quan điểm thực tiễn, lịch sử, toàn diện, kết hợp hài hòa với khoa học dự báo, mới có thể đạt được mục tiêu của sự phát triển. Ở các trường TCCN, hoạt động phát triển NNLGV phải do nhiều cấp thực hiện (tổ BM, khoa, trường và cơ quan chủ quản); cần chú ý đến sự khác nhau về mức độ của 3 cấp bậc quản lý là cấp chính sách (Bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố), cấp kỹ thuật (các trường Trung cấp) và cấp tác nghiệp (khoa, BM); (xem sơ đồ 1.1của Christian Batal). Vì vậy, phải xem xét tất cả các cấp độ thì hệ giải pháp đưa ra mới có tính toàn diện và khả thi.1: Xác định phương tiện thực hiện quản lý nguồn nhân lực 12 1. Giáo viên trường trung cấp chuyên nghiệp trong bối cảnh đổi mới GDNN đáp ứng yêu cầu hội nhập: Theo Mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp có trình độ phát triển trung bình (tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP; tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 30% trong lao động xã hội) Với yêu cầu của một đất nước công nghiệp, nền kinh tế nước ta cần có đội ngũ lao động kỹ thuật đủ về số lượng, có kiến thức, kỹ năng nghề với cơ cấu và trình độ phù hợp.
Do đó các Trường TCCN có vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt đối với phát triển vốn con người, nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm ngh o, thực hiện công bằng xã hội, góp phần phát triển KT-XH bền vững. Dạy nghề là một trong những giải pháp đột phá của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội nhằm phát triển nhanh đôị ngũ nhân lực kỹ thuật trực tiếp, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; góp phần đảm bảo an sinh xã hội và phát triển dạy nghề được coi là quốc sách hàng đầu. Phát triển các trường TCCN là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, của cả hệ thống chính trị, của người sử dụng lao động và toàn xã hội; Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư cho dạy nghề, đồng thời huy động mọi nguồn lực xã hội, sự tham gia của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội cho phát triển dạy nghề. Vai trò của nhà trường chuyên nghiệp trong nền giáo dục hiện đại với những yêu cầu đặt ra trên đây, có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ hệ thống tổ chức và 13 qui trình đào tạo.
Nó đòi hỏi các trường TCCN phải nhanh nhạy chuyển từ đào tạo diện hẹp sang đào tạo diện rộng để phục vụ sự phát triển KT - XH; thích nghi và đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Vị trí, vai trò của người giáo viên trong tiến trình đổi mới GDNN Thời đại toàn cầu hóa, đã làm cho môi trường giáo dục đang thay đổi nhanh chóng; các GV phải linh hoạt để cải tiến hoạt động giảng dạy của mình nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Với vai trò nhà khoa học, người GV ở trường TCCN phải hướng vào tìm kiếm và chuyển giao các qui trình ứng dụng.