Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN CHO SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu năng lực nghề nghiệp của người giáo viên Những nghiên cứu ở nước ngoài Emesto Cuadra và Juan Manuel Moreno cùng cộng sự (World Bank 2005) đề xuất bộ năng lực giáo viên, gồm ba nhóm năng lực với 12 năng lực cơ bản: Nhóm năng lực trong lĩnh vực nghề nghiệp (1- Hành động với tinh thần phân tích, lí giải, phê phán kiến thức; 2 - Tham dự các dự án nghề nghiệp; 3 - Hành động với tinh thần trách nhiệm và đạo đức); Nhóm năng lực trong lĩnh vực dạy học (4 - Thiết kế các tình huống dạy học; 5 - Triển khai các tình huống dạy học; 6 - Đánh giá sự tiến bộ của học sinh; 7 - Lập kế hoạch, tổ chức và giám sát cách thức làm việc của học sinh; 8 - Điều chỉnh hoạt động dạy linh hoạt; 9 - Tích hợp công nghệ thông tin và truyền thông; 10 - Truyền đạt đúng và rõ ràng); Nhóm năng lực trong lĩnh vực trường học (11 - Hợp tác với nhà trường, phụ huynh và nhân viên xã hội; 12 - Hợp tác với đồng nghiệp) [dẫn theo 12]. Như vậy những nghiên cứu của tổ chức Ngân hàng thế giới đã xác định cấu trúc năng lực của người giáo viên trong ba mối quan hệ chủ yếu là: Quan hệ với công việc (nghề nghiệp); Quan hệ với học sinh; Quan hệ với các lực lượng giáo dục trong xã hội.
Trong nghiên cứu, nhóm tác giả tiếp cận năng lực của người giáo viên ở góc độ hoạt động, các năng lực được biểu hiện ra bên ngoài bằng những hành động (hành động, tham dự, thiết kế, triển khai, đánh giá, lập kế hoạch, điều chỉnh, tích hợp, truyền đạt, hợp tác), nhóm tác giả cũng quan niệm năng lực của người giáo viên gồm nhiều năng lực thành phần, trong đó có cả năng lực trí tuệ (phân tích, giải thích, phê phán) và sự tham gia của trách nhiệm, đạo đức. 8 Kiymet Selvi (2005), xác định năng lực của giáo viên nói chung và năng lực sư phạm của giáo viên Thổ Nhĩ Kì nói riêng gồm 9 lĩnh vực sau: 1 - Năng lực môn học/năng lực chuyên môn; 2 - Năng lực nghiên cứu; 3 - Năng lực chương trình (năng lực phát triển chương trình và năng lực thực hiện chương trình); 4 - Năng lực học tập suốt đời; 5 - Năng lực văn hoá - xã hội; 6 - Năng lực xúc cảm (được tạo thành từ các giá trị, đạo đức, niềm tin, thái độ, động cơ.v…); 7 - Năng lực giao tiếp; 8 - Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông; 9 - Năng lực giáo dục môi trường [dẫn theo 12]. Nhìn vào quan niệm của Kiymet Selvi chúng ta thấy cấu trúc năng lực của người giáo viên trong xã hội hiện đại, ngoài hai năng lực cốt lõi mà người giáo viên ở thời đại nào cũng cần có là năng lực chuyên môn và năng lực chương trình, thì đối với người giáo viên trong thế kỷ XXI cần có năng lực học suốt đời, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực giáo dục môi trường. Trong quan niệm của Kiymet Selvi, những năng lực mang tính nhân văn (năng lực văn hoá - xã hội, năng lực xúc cảm, năng lực giao tiếp, năng lực giáo dục môi trường) chiếm một tỷ trọng khá lớn trong cấu trúc năng lực của người giáo viên.
Điều đó cũng khẳng định trong cấu trúc năng lực của người giáo viên không chỉ có tri thức, kỹ năng mà còn có cả thành phần xúc cảm, niềm tin, đạo đức.v… Abdalhamid Alahmad, Tatjana Stamenkovska, János Gyori (2021), trong công trình “Chuẩn bị cho giáo viên tương lai những kỹ năng giáo dục ở thế kỷ 21”, nhấn mạnh việc giáo viên cần biết các mô hình học tập cá nhân, hiểu động cơ và cảm xúc của học sinh; có nền tảng kiến thức phong phú; có kỹ năng thiết kế, lãnh đạo, quản lý và lập kế hoạch môi trường học tập; sử dụng hiệu quả các kỹ năng nhận thức và siêu nhận thức; phải thành thạo trong việc sử dụng công nghệ [52]. Kathryn Kennedy and Leanna Archambault (2012), trong nghiên cứu “Cung cấp trải nghiệm thực địa cho giáo viên trong việc học trực tuyến từ 9 K-12: Khảo sát quốc gia về các chương trình giáo dục dành cho giáo viên (ở Hoa Kỳ)” cho rằng giáo viên trong thế kỷ 21 phải làm chủ được hai môi trường dạy học là môi trường trực tiếp và môi trường trực tuyến. Đối với môi trường trực tuyến, giáo viên đạt được những tiêu chí như: 1 - Đáp ứng các tiêu chuẩn giảng dạy chuyên nghiệp trong cả môi trường trực tiếp và môi trường ảo; 2 - Có kỹ năng công nghệ tiên quyết để dạy trực tuyến; 3 - Lập kế hoạch, thiết kế và kết hợp các chiến lược để khuyến khích học tập tích cực trên môi trường trực tuyến; 4 - Khả năng lãnh đạo trực tuyến theo cách thúc đẩy sự thành công của học sinh thông qua phản hồi thường xuyên, phản hồi nhanh chóng và kỳ vọng rõ ràng; 5 - Làm mẫu, hướng dẫn và khuyến khích hành vi hợp pháp, đạo đức, an toàn và lành mạnh liên quan đến việc sử dụng công nghệ; 6 - Có kinh nghiệm học trực tuyến; 7 - Hiểu và đáp ứng những học sinh có nhu cầu đặc biệt trong lớp học trực tuyến (biết các công nghệ hỗ trợ, các sửa đổi và các dịch vụ liên quan trong môi trường trực tuyến để đảm bảo hỗ trợ những học sinh có nhu cầu đặc biệt); 8 - Thể hiện năng lực xây dựng và thực hiện đánh giá trong môi trường học tập trực tuyến; 9 - Thể hiện năng lực trong việc sử dụng dữ liệu; 10 - Thể hiện các chiến lược thường xuyên và hiệu quả; 11- Cộng tác hiệu quả với đồng nghiệp bằng cách sử dụng hội nghị trên web [56]. Một số nghiên cứu khác về năng lực nghề nghiệp giáo viên theo tiếp cận giáo dục bền vững như: Cao ủy Kinh tế Liên Hiệp Quốc về Châu Âu UNECE với dự án CSCT (Curriculum, Sustainable development, Competences, Teacher training) [58], [59] đã xác định các năng lực cụ thể của giáo viên bao gồm: kiến thức (kiến thức chuyên môn, kiến thức sư phạm), tư duy hệ thống, cảm xúc, giá trị và đạo đức, hành động.
Rauch, Steiner, & Streissler [57] phát triển mô hình KOM-BiNE đã xác định năng lực nghề nghiệp giáo viên bao gồm: Nhóm kiến thức chuyên môn và kĩ năng sư phạm; Nhóm giá trị; Nhóm thái độ; Nhóm giao tiếp và phản hồi; Nhóm năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện 10 Các tác giả Baumert & Kunter [53] đã đề xuất mô hình năng lực nghề nghiệp giáo viên COACTIV gồm: Kiến thức và kĩ năng; Giá trị, niềm tin và mục tiêu nghề nghiệp; Định hướng động lực; Các năng lực hành động. Các tác giả Warren, Archambault, & Foley [61] đã đề xuất các năng lực: tư duy tương lai, tư duy giá trị, tư duy hệ thống và tư duy chiến lược. Garcia và cộng sự [55] đã xây dựng mô hình năng lực gồm các khía cạnh: sự kết nối, đối thoại, sáng tạo, đổi mới, tư duy phản biện, tính không chắc chắn. Vare và các cộng sự [60] đã đề xuất khung 12 năng lực dành cho các nhà giáo dục gồm: tư duy hệ thống, tư duy tương lai, sự tham gia, sự tập trung, sự đồng cảm, sự cam kết, tính xuyên ngành, sự đổi mới, hành động, tính phản biện, tính trách nhiệm và tính quyết đoán.
Các tác giả nghiên cứu theo tiếp cận giáo dục bền vững đã xác định, bổ sung làm phong phú thêm cấu trúc năng lực năng lực nghề nghiệp của người giáo viên. Tuy nhiên, chưa bao quát được toàn diện, phản ánh được đầy đủ các giá trị và các năng lực thành phần trong cấu trúc năng lực nghề nghiệp của người giáo viên. Những nghiên cứu ở trong nước Năng lực nghề nghiệp của người giáo viên là một vấn đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và đông đảo đội ngũ giáo viên, với những nghiên cứu ở những mức độ và bình diện khác nhau có sản phẩm là những công trình khoa học lớn như đề tài khoa học, sách chuyên khảo; những nghiên cứu nhỏ có thể là những sáng kiến, bài viết đăng trên các tạp chí hoặc hội thảo. Dưới đây là những công trình lớn nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về năng lực nghề nghiệp của người giáo viên: Trong công trình Phát triển chương trình đào tạo giáo viên - những vấn đề lí luận và thực tiễn.
Theo đó, tác giả đã xác định năng lực giáo viên bao gồm năng lực chung (năng lực chuyên môn, năng lực quan hệ con người, năng lực khái quát) và năng lực chuyên biệt - năng lực sư phạm. Tác giả cũng quan niệm “năng lực sư phạm là một thuộc tính, là đặc điểm của nhân cách còn kĩ năng sư phạm là những thao tác riêng của hoạt động sư phạm trong các dạng hoạt động cụ thể” và nhấn mạnh khi nghiên cứu năng lực sư phạm của giáo viên cần nghiên cứu hệ thống các kỹ năng tương ứng. Trong công trình trên, tác giả Phạm Hồng Quang đặc biệt coi trọng đào tạo giáo viên dựa vào năng lực và định hướng trách nhiệm, xem đó là một đặc tính nghề nghiệp và là điểm khác biệt lớn giữa nghề giáo viên và các nghề nghiệp khác.