Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc Tổ chức dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 theo hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh ở trường trung học phổ thông. Chương 2: Các biện pháp Tổ chức dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 theo hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh ở trường trung học phổ thông Công Nghiệp tỉnh Hòa Bình. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11 THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở chương này, để có cơ sở lý luận và thực tiễn, để đi sâu vào tìm ra biện pháp chúng tôi đi vào thống nhất các quan niệm, khẳng định vai trò ý nghĩa và điều tra thực tiễn. Quan niệm về việc Tổ chức dạy học Lịch sử theo hướng phát triển năng lực hợp tác 1.
Tổ chức – tổ chức dạy học. - Tổ chức, theo [33, tr. 9], Trần Kiểm (2012), Hà Nội. “tổ chức” là thuật ngữ được hiểu trên 2 bình diện: một là danh từ (organization) khi ta nói đến khía cạnh thiết chế, là một động từ (organize) khi nói đến khía cạnh của việc tiến hành một hoạt động.
Trong luận văn này chúng tôi xem xét khái niệm “tổ chức” dưới bình diện là một động từ. Theo đó, “tổ chức” là làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất [46, tr.973], hay “tổ chức” là tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào đó. Dựa vào các định nghĩa trên, chúng tôi quan niệm, “tổ chức” là tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào đó nhằm đạt được mục đích. - Tổ chức dạy học: Trong lý luận dạy học, khái niệm tổ chức dạy học được tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau: theo quy mô, theo các yếu tố của quá trình dạy học (nội dung dạy học, mục tiêu dạy học.
Tiếp cận theo quy mô chúng ta có “tổ chức” theo nghĩa rộng của nó, tức là tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục, bao gồm cả việc xác định mục tiêu, xây dựng nội dung chương trình và các hình thức dạy học, giáo dục. Tiếp cận theo yếu tố của quá trình dạy học, chúng ta có khái niệm tổ chức dạy học theo nghĩa hẹp, tổ chức dạy học được hiểu là sự sắp xếp các biện pháp sư phạm của thầy và trò theo một logic nhất định nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo [32, tr.107], “m i nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định. Đó là những hoạt động được tiến hành trong quá trình hình thành và vận dụng nội dung đó”.
Quan điểm này thể hiện mối liên hệ giữa mục đích, nội dung và phương pháp dạy học trong quá trình dạy học. Trong luận văn này chúng tôi quan niệm: tổ chức dạy học là cách thức điều hành của giáo viên trong các hoạt động dạy học, tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động học tập một cách chủ động, tích cực nhằm đạt được mục tiêu bài học. Năng lực Khái niệm về năng lực có nguồn gốc từ tiếng La tinh “competenia” dịch ra có nghĩa là “gặp gỡ”. Theo tiếng Anh “compentency” dịch ra có nghĩa là năng lực hay khả năng, hoặc là thẩm quyền.
Ngày nay, thuật ngữ này được tiếp cận theo nhiều quan niệm khác nhau: Theo Từ điển tiếng Việt, “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tao cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [47, tr. 26] Goethe (1830) cho rằng “biết là không đủ, người ta phải ứng dụng; muốn là không đủ, người ta phải làm”. Trong cuộc sống, con người không chỉ dừng lại ở nhận thức đúng mà quan trọng hơn là phải biết hành động nhận thức và hành động có hiệu quả. John Erpenbeck (1998) nhấn mạnh: “Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức thiết lập qua giá trị, xếp đặt như là các khả năng, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý trí”.
Weitnert (2001) cho rằng năng lực là những kỹ năng, kỹ xảo của m i cá nhân học được hoặc có sẵn, nó giúp giải quyết một số vấn đề trong học tập lẫn trong cuộc sống, gắn với đó là khả năng vận dụng những cách giải quyết vấn đề linh hoạt với trách nhiệm và hiệu quả cao Một số nhà giáo dục khác khẳng định, năng lực là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách ph hợp và có hiệu quả trong các tình huống phong phú của cuộc sống” (Quecsbe – Ministere de I‟Education,2004); “năng lực là khả năng tâm lý của con người” (Henri Pireron),… 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn (1998) “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân ph hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. 11] Tâm lý học cho rằng năng lực là tổ hợp các thuộc tính của cá nhân, nó ph hợp với những đặc trưng của một hoạt động nào đó nhằm giúp hoạt động đó đạt kết quả cao. Những quan điểm này tuy có khác nhau nhưng nhìn chung năng lực được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề nào đó. Như vậy, những nhận định trên đều có nội hàm là khả năng giải quyết vấn đề nào đó trên cơ sở của trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức.
Hiểu như thế năng lực là hội tụ của ba yếu tố: kiến thức, kĩ năng và thái độ. Những yếu tố này hòa quyện đan xen vào nhau, nhờ vậy năng lực được hình thành thông qua quá trình bền bỉ trong học tập, rèn luyện, trải nghiệm hoạt động của m i người. Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên chúng tôi định nghĩa như sau: Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả hành động, giải quyết các nhiệm vụ trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Hợp tác Con người không thể tồn tại nếu không có khả năng hợp tác, làm việc với mọi người xung quanh.
Chính vì thế, hợp tác xuất hiện trong tất cả các mối quan hệ từ gia đình đến ngoài xã hội. Theo đại từ điển Tiếng Việt, hợp tác là chung sức, giúp đỡ qua lại với nhau” [27; 848]. Nội hàm của “hợp tác” bao gồm: các thành viên có c ng mục tiêu cần hoàn thành, nhiệm vụ của m i thành viên được phân công ph hợp với khả năng vốn có của từng người; bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nguồn lực và thông tin, tự nguyện hoạt động; các thành viên gắn bó c ng nhau với tinh thần trách nhiệm cao; giúp đỡ h trợ, khích lệ tinh thần tập thể và bổ sung cho nhau. Từ các quan niệm của các tác giả trên, trong luận văn này, theo chúng tôi khái niệm hợp tác là sự kết hợp giữa hai hay nhiều người trong một tập thể (nhóm 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hay lớp) trong đó, m i người đảm nhận một vai trò, phối hợp, giúp đỡ, chia sẻ lẫn nhau nhằm giải quyết nhiệm vụ chung nào đó.
Trong quá trình đó, HS sẽ dần rèn luyện được các kỹ năng độc lập làm việc trên tinh thần đồng đội, qua đó hoàn thành mục tiêu đặt ra, từng bước hoàn thiện bản thân. Năng lực hợp tác Tác giả Lương Việt Thái (2012) cho rằng năng lực hợp tác (NLHT) là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, làm việc cùng nhau, có sự quan tâm đến nhau, giúp đỡ, h trợ nhau nhằm phát huy tối đa những ưu điểm và khắc phục những khuyết điểm của m i cá nhân vì lợi ích chung. Nhiều công trình nghiên cứu lý luận liên quan đến vấn đề dạy học theo hướng phát triển NLHT dựa trên cơ sở của một số lý thuyết chủ yếu sau: Lý thuyết động lực nhóm: Thuyết này cho rằng người với người trong nhóm sẽ hình thành một quan hệ phức tạp (quan hệ tương h ). Nó có ảnh hưởng đến hành vi của họ nên m i thành viên trong nhóm có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và tổng hợp những mâu thuẫn sẽ cấu thành những hành vi tập thể.
Bản chất nhóm là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên để trở thành một chỉnh thể trọn vẹn. Bất kỳ sự thay đổi vị trí, vai trò nào của một thành viên đều có tác động đến các thành viên khác. Chính sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên là động lực để nhóm đạt được mục tiêu chung. Lý thuyết kiến tạo: đại diện là J.
Thuyết này nhấn mạnh sự tương tác giữa chủ thể với môi trường xung quanh, nó có vai trò quan trọng trong việc lĩnh hội nội dung và tri thức học tập. Đồng thời thuyết này còn nhấn mạnh rằng trong dạy học hợp tác người học dưới sự hướng dẫn của giáo viên (GV) để c ng nhau thảo luận, xây dựng tập thể học tập. Trong quá trình này, các em c ng nhau khảo sát, phê phán các loại lý luận, quan điểm, giả thuyết, bàn bạc nội bộ trước và tự thân tranh luận quan điểm cá nhân, sau đó c ng bàn bạc đi đến thống nhất. Môi trường học tập như vậy thúc đẩy trí tuệ và tư duy của tập thể người học được cộng hưởng, kỹ năng học tập phát triển và hoàn thành kiến tạo kiến thức mới [5; 160].
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lý thuyết nhu cầu: đại diện là William Gelasser, cho rằng ẩn giấu trong các gene của con người có bốn nhu cầu tâm lý thúc đẩy ý thức cá nhân thực hiện các hoạt động cộng đồng gồm, nhu cầu hữu nghị (tình bạn), nhu cầu sức mạnh (tự tôn), nhu cầu tự do và nhu cầu khoái lạc. Ứng dụng vào dạy học, ông cho rằng nếu HS ở trường không thỏa mãn được nhu cầu có tình bạn và lòng tự tôn thì không thể vui vẻ và có hứng thú trong học tập. Lý thuyết nhu cầu coi trường học là một môi trường quan trọng thỏa mãn nhu cầu của HS và chỉ có thỏa mãn, họ mới thấy hứng thú ý nghĩa trong học tập, từ đó thu được thành công.