Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận được thực hiện trong bối cảnh công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông tại Việt Nam đang được triển khai theo tinh thần Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, với định hướng chuyển trọng tâm từ phương pháp truyền thụ thụ động sang phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Tuy nhiên, trong khi mục tiêu, chương trình và sách giáo khoa từng bước được điều chỉnh, khâu kiểm tra và đánh giá kết quả học tập ở trường phổ thông hầu như chậm thay đổi, vẫn chủ yếu duy trì phương thức tự luận truyền thống nặng về ghi nhớ sự kiện cơ bản.

Đối với bộ môn Lịch sử, thực trạng giảng dạy và học tập gặp nhiều trở ngại:

  • Bộ môn có khối lượng kiến thức rộng lớn (bao gồm lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới qua nhiều thời kỳ), song quỹ thời lượng phân phối trong chương trình rất hạn chế (1,5 tiết/tuần đối với khối lớp 10 và 12; 1 tiết/tuần đối với khối lớp 11).
  • Trong nhận thức của phụ huynh, học sinh và một bộ phận cán bộ quản lý, môn Lịch sử thường bị xem là môn phụ. Tình trạng học sinh học vẹt, học đối phó, quay cóp trong thi cử diễn ra phổ biến; kết quả thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh đại học môn Lịch sử qua các năm đạt tỷ lệ điểm dưới trung bình ở mức đáng báo động.
  • Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã từng bước áp dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan đối với môn Ngoại ngữ (tốt nghiệp THPT năm học 2005 - 2006) và mở rộng sang các môn Ngoại ngữ, Vật lý, Hóa học (tuyển sinh Đại học năm học 2007 - 2008), song việc vận dụng trắc nghiệm khách quan vào môn Lịch sử còn rất hạn chế và thiếu một hệ thống ngân hàng câu hỏi được chuẩn hóa.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và kỹ thuật biên soạn trắc nghiệm khách quan trong dạy học môn Lịch sử.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng kiểm tra đánh giá môn Lịch sử ở trường phổ thông, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự bất cập trong công tác khảo thí hiện hành.
  3. Vận dụng quy trình kỹ thuật để biên soạn hệ thống câu trắc nghiệm khách quan cho phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX (chương trình Lịch sử lớp 10 - Ban Cơ bản), tiến hành thực nghiệm sư phạm và phân tích định lượng chất lượng câu hỏi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Lịch sử ở trường THPT thông qua hình thức trắc nghiệm khách quan.
  • Phạm vi nội dung: Các bài học thuộc phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX trong sách giáo khoa Lịch sử 10 (chương trình chuẩn/Ban Cơ bản).
  • Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát thực trạng tại các trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, THPT Nguyễn Du, THPT Nguyễn Thượng Hiền, THPT Marie Curie, THPT tư thục Hồng Đức, THPT dân lập Trần Nhân Tông, THPT dân lập Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trung học Thực hành ĐHSP) và số liệu khảo thí giai đoạn 1995 - 2009.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về mặt lý luận, nghiên cứu tiếp cận khái niệm kiểm tra như một phương tiện thu thập dữ kiện định lượng và định tính, còn đánh giá là quá trình đối chiếu thông tin thu được với mục tiêu giáo dục để đưa ra quyết định sư phạm. Nội dung kiểm tra đánh giá môn Lịch sử được đối chiếu theo 6 mức độ nhận thức của giáo dục học: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá; đồng thời bao quát cả ba mặt: giáo dưỡng (tri thức), giáo dục (tư tưởng, thái độ) và phát triển (kỹ năng tư duy logic, xử lý tư liệu, sử dụng lược đồ biểu đồ).

Tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu về đo lường giáo dục tiêu biểu tại Việt Nam, đặc biệt là các chuyên khảo của TS. Dương Thiệu Tống: Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập (phương pháp thực hành) (1995) và Trắc nghiệm tiêu chí (phương pháp thực hành) (1998); tài liệu Đo lường và đánh giá kết quả học tập - Phương pháp thực hành của Lê Trung Chính, Đoàn Văn Điều, Võ Văn Nam, Ngô Đình Qua, Lý Minh Tiên (2004); cùng các nguyên lý đối sánh giữa luận đề và trắc nghiệm của Robert L. Ebel (1965).

Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Khai thác văn kiện chỉ đạo đổi mới giáo dục, chương trình, sách giáo khoa và các công trình lý luận dạy học lịch sử để xây dựng ma trận nội dung.
  • Phương pháp đối chiếu so sánh: So sánh đặc tính đo lường, ưu thế và hạn chế giữa hai hình thức trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan.
  • Phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi:
    • Khảo sát ý kiến của 20 giáo viên dạy môn Lịch sử tại 7 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
    • Khảo sát nhận thức và thái độ học tập của 281 học sinh THPT tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Kỹ thuật xây dựng mồi nhử thực chứng: Tác giả phát câu hỏi mở cho học sinh viết câu trả lời tự do, sau đó phân loại, thống kê các câu trả lời sai có tần số xuất hiện cao nhất để làm các phương án gây nhiễu (distractors) trong câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Triển khai bài trắc nghiệm khách quan trên lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tại trường phổ thông; thu thập dữ liệu điểm số để kiểm định độ khó ($P$), độ phân cách ($D$) và hiệu năng của các phương án mồi nhử.
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu phân tích 10 đề thi tốt nghiệp THPT môn Sử (1999 - 2005) của Th.S Nguyễn Thục Anh; sổ điểm kiểm tra học kỳ I năm học 2008 - 2009 của 7 lớp 10 trường THPT Nguyễn Du; thống kê điểm thi tuyển sinh đại học môn Lịch sử vào Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh từ năm 1995 đến năm 2006.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Khái quát về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong dạy học lịch sử

Chương này tập trung làm rõ hệ thống khái niệm bản lề: kiểm tra, đánh giá, các loại hình kiểm tra (thường xuyên, định kỳ, tổng kết) và bốn loại hình đánh giá (đánh giá khởi sự, đánh giá hình thành, đánh giá chuẩn đoán, đánh giá tổng kết). Đánh giá được xác định là khâu khép lại một chu trình dạy học đồng thời khởi đầu cho một chu trình tiếp theo ở cấp độ chất lượng cao hơn.

Tác giả đi sâu phân tích 5 dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan phổ biến trong khảo thí giáo dục:

  1. Câu trả lời ngắn (Short answer).
  2. Câu trắc nghiệm đúng - sai (True - False).
  3. Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn (Multiple choice): cấu trúc gồm phần dẫn (gốc) và hệ thống phương án lựa chọn (đáp án đúng kèm các mồi nhử).
  4. Câu trắc nghiệm đối chiếu - cặp đôi (Matching items).
  5. Câu trắc nghiệm điền khuyết (Completion items).

Mỗi dạng câu hỏi đều được phân tích ưu điểm, nhược điểm, phạm vi ứng dụng và các nguyên tắc kỹ thuật khi biên soạn. Để định vị vai trò của trắc nghiệm khách quan, chương I cung cấp bảng so sánh toàn diện với hình thức tự luận:

Tiêu chí so sánh Trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm tự luận
Phạm vi kiểm tra Rất nhiều câu hỏi; bao quát hệ thống và toàn diện chương trình; hạn chế hiện tượng học tủ, dạy tủ. Số lượng câu hỏi ít; chỉ kiểm tra được một phần kiến thức; dễ dẫn đến hiện tượng học tủ, đoán đề.
Thời gian khảo sát Kiểm tra trên diện rộng trong thời gian ngắn (thường 40-45 câu cho tiết 45 phút). Mất nhiều thời gian làm bài để học sinh triển khai lập luận chi tiết.
Khâu chấm bài Nhanh chóng, chính xác tuyệt đối, khách quan; có thể áp dụng máy quét và phần mềm chấm thi. Tốn nhiều thời gian; khó bảo đảm sự thống nhất và khách quan giữa những người chấm.
Khả năng tự đánh giá Học sinh dễ dàng đối chiếu đáp án chuẩn để tự xác định chính xác kết quả học tập. Học sinh khó tự đánh giá chính xác mức điểm bài làm của bản thân.
Phân hóa trình độ Phân phối điểm trải trên diện rộng; độ tin cậy phân loại năng lực học sinh cao. Phân phối điểm thường co cụm ở diện hẹp; chịu ảnh hưởng bởi chủ quan người chấm.
Đo lường kỹ năng diễn đạt Khó hoặc không đánh giá được khả năng hành văn, sử dụng ngôn ngữ và diễn đạt ý kiến. Đánh giá tốt năng lực diễn đạt, lập luận logic và khả năng sáng tạo ngôn ngữ của học sinh.
Độ khó biên soạn Biên soạn câu hỏi chuẩn hóa rất khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật đo lường. Biên soạn đề thi tương đối nhanh và ít tốn thời gian hơn.

Bên cạnh đó, chương I hệ thống hóa quy trình quy hoạch một bài kiểm tra trắc nghiệm: xác định mục đích, lập ma trận hai chiều (mục tiêu nhận thức $\times$ nội dung kiến thức), phân tích câu trắc nghiệm thông qua việc xác định độ khó ($P$), hệ số phân cách ($D$) và kiểm tra mức độ hấp dẫn của các phương án nhiễu.

Chương II: Tình hình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

Chương II phản ánh bức tranh thực trạng dạy, học và khảo thí môn Lịch sử thông qua các dữ liệu thực tế và số liệu thống kê.

Tác giả chỉ rõ tình trạng coi nhẹ môn Lịch sử trong trường học thông qua thời lượng bố trí ít ỏi, hiện tượng các trường cắt xén tiết Sử hoặc dồn giờ để ưu tiên các môn thi tốt nghiệp/đại học. Đề thi môn Lịch sử trong các kỳ thi lớn giai đoạn này còn nặng về tái hiện sự kiện. Khảo sát 10 đề thi tốt nghiệp THPT môn Sử (1999 - 2005) của Th.S Nguyễn Thục Anh cho thấy:

Cấp độ nhận thức Số câu hỏi Tỷ lệ (%)
Tư duy bậc thấp (nhận biết, nêu, trình bày, là gì) 61 86,00%
Tư duy bậc cao (phân tích, nhận xét, tổng hợp) 10 14,00%
Tổng số 71 100,00%

Số liệu điều tra bằng phiếu hỏi của tác giả tại TP. Hồ Chí Minh thể hiện cụ thể:

Ý kiến của 20 giáo viên môn Lịch sử:

  • 80% (16/20) đánh giá kiểm tra đánh giá là "rất cần thiết", 20% (4/20) đánh giá "cần thiết".
  • Về nhận thức bản chất kiểm tra đánh giá: 55% coi là khâu quan trọng không thể thiếu của quá trình dạy học, 50% xem là công việc chung của cả giáo viên và học sinh, 25% xem là quá trình thu thập và xử lý thông tin.
  • Về phương pháp áp dụng: 65% (13/20) thường dùng hình thức tự luận, 40% (8/20) có sử dụng trắc nghiệm khách quan.
  • Tần suất tổ chức: 60% (12/20) chỉ thực hiện theo quy định định kỳ của nhà trường.
  • Xu hướng đổi mới: 60% (12/20) có nguyện vọng thay đổi phương pháp kiểm tra đánh giá hiện hành.

Ý kiến của 281 học sinh THPT:

  • Hứng thú học tập: Chỉ 29,53% (83/281) học sinh thích học môn Sử; 48,39% (136/281) có thái độ bình thường; 22,06% (62/281) không thích học.
  • Nguyên nhân không hứng thú: 60,49% do sách giáo khoa còn nặng, chưa hấp dẫn; 37,72% xem thường môn Sử vì coi là môn phụ; 20,99% do bản thân không nỗ lực; 12,81% do phương pháp dạy của giáo viên.
  • Nhận định về tính thực chất: 33,45% (94/281) học sinh khẳng định phương pháp kiểm tra hiện hành chưa đánh giá đúng thực chất kết quả học tập.

Thực trạng kết quả học tập môn Sử được minh chứng qua các số liệu thống kê:

  • Tại Trường THPT Nguyễn Du (học kỳ I năm học 2008 - 2009, trên 7 lớp khối 10): Tỷ lệ học sinh không đạt yêu cầu (dưới 5,0 điểm) ở bài kiểm tra miệng dao động từ 0% đến 12%; bài kiểm tra 15 phút không đạt từ 6% đến 28,85%; bài kiểm tra 1 tiết không đạt từ 6% đến 19,24%; bài kiểm tra học kỳ I không đạt từ 4% đến 54%; và tỷ lệ điểm trung bình môn học kỳ I không đạt dao động từ 1,89% đến 9,62% (chỉ riêng lớp 10C2 đạt 100%).
  • Thống kê kết quả thi tuyển sinh đại học môn Lịch sử vào Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 1995 - 2006:
Năm thi Tổng số bài thi Bài thi đạt (từ 5,0 trở lên) Tỷ lệ đạt (%) Bài thi không đạt (dưới 4,5 điểm) Tỷ lệ không đạt (%)
1995 5.723 1.346 27,11% 4.080 72,89%
1998 3.186 500 15,69% 2.686 84,30%
1999 5.809 1.585 27,29% 4.224 72,71%
2000 11.522 4.425 38,40% 7.097 61,60%
2005 8.956 308 3,44% 8.648 96,56%
2006 9.241 613 6,63% 8.628 93,37%

Từ thực trạng trên, tác giả đề xuất nhóm giải pháp: nâng cao nhận thức về đo lường giáo dục, tuân thủ quy chế chuyên môn, tăng cường độ tin cậy và tính giá trị của đề thi, kết hợp chặt chẽ việc kiểm tra của giáo viên với việc tự kiểm tra của học sinh.

Chương III: Soạn thảo câu trắc nghiệm cho phần lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX

Chương này trình bày quá trình thực hành sư phạm ứng dụng:

  • Lý do lựa chọn mảng kiến thức: Phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX (Lớp 10 - Ban Cơ bản) phản ánh quá trình hình thành, phát triển và khủng hoảng của quốc gia phong kiến độc lập với khối lượng tư liệu lịch sử dày đặc, phong phú về chính trị, kinh tế, quân sự, kháng chiến chống ngoại xâm và thành tựu văn hóa. Đây là nội dung lý tưởng để vận dụng trắc nghiệm khách quan nhằm kiểm tra toàn diện kiến thức mà không gây quá tải ghi nhớ.
  • Quy trình quy hoạch ma trận bài học: Xác định mục tiêu bài học $\rightarrow$ Phân tích nội dung chi tiết $\rightarrow$ Xác định các trọng tâm cần kiểm tra $\rightarrow$ Lập dàn bài trắc nghiệm (ma trận kiến thức - kỹ năng) $\rightarrow$ Biên soạn hệ thống câu hỏi tương ứng.
  • Biên soạn hệ thống câu hỏi: Triển khai chi tiết hệ thống câu hỏi trắc nghiệm theo từng bài học cụ thể trong phân phối chương trình SGK Lịch sử 10.
  • Thực nghiệm sư phạm: Thiết kế phương án thực nghiệm tại trường phổ thông (chia nhóm lớp thực nghiệm và lớp đối chứng), tổ chức cho học sinh làm bài trắc nghiệm, tiến hành chấm điểm và thu thập dữ liệu định lượng.
  • Phân tích câu trắc nghiệm: Sử dụng công thức toán thống kê để xác định độ khó ($P$), độ phân cách ($D$), qua đó rà soát và điều chỉnh chất lượng từng câu hỏi, loại bỏ hoặc chỉnh sửa các phương án nhiễu không phát huy tác dụng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả và đóng góp chuyên môn cụ thể:

  • Làm rõ bức tranh thực trạng khảo thí môn Lịch sử: Dẫn chứng hệ thống số liệu thực nghiệm khẳng định sự mất cân đối nghiêm trọng trong khâu kiểm tra đánh giá (86% câu hỏi đề thi tốt nghiệp chỉ kiểm tra nhận thức bậc thấp; tỷ lệ bài thi tuyển sinh đại học không đạt có năm lên tới 96,56%; 33,45% học sinh khẳng định kiểm tra chưa đánh giá đúng năng lực).
  • Đóng góp về phương pháp biên soạn: Đề xuất và áp dụng quy trình 4 bước xây dựng mồi nhử (phương án gây nhiễu) dựa trên việc thu thập các câu trả lời sai có tần số cao từ bài làm mở của học sinh, khắc phục nhược điểm phương án nhiễu do giáo viên chủ quan suy đoán.
  • Sản phẩm đóng góp cho thực tiễn: Cung cấp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan hoàn chỉnh cho phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX thuộc chương trình Lịch sử 10 - Ban Cơ bản, đã qua thực nghiệm sư phạm và phân tích các chỉ số kỹ thuật đo lường (độ khó, độ phân biệt).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận xác định các giới hạn thực tế:

  • Phạm vi nội dung mới chỉ giới hạn trong một phần chương trình (Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX) của sách giáo khoa Lịch sử 10 - Ban Cơ bản, chưa bao quát toàn bộ chương trình lớp 10 hay các khối lớp 11 và 12.
  • Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm chỉ được tiến hành trên một số trường THPT tại khu vực TP. Hồ Chí Minh, chưa có điều kiện mở rộng khảo sát ở các vùng miền khác.
  • Việc xử lý và quản lý ngân hàng câu hỏi mới dừng ở mức xử lý thủ công và khảo sát lớp học cụ thể, chưa tích hợp đồng bộ với các phần mềm công nghệ thông tin chuyên dụng (như hệ thống phần mềm TQB đã được giới thiệu trong các hội thảo khảo thí).

Hướng nghiên cứu tiếp được mở ra:

  • Tiếp tục mở rộng biên soạn hệ thống câu trắc nghiệm khách quan cho các giai đoạn lịch sử còn lại trong chương trình THPT.
  • Nghiên cứu kết hợp tối ưu giữa tỷ lệ câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận trong cấu trúc đề kiểm tra định kỳ và đề thi tuyển sinh, nhằm đánh giá đồng thời cả kiến thức diện rộng lẫn năng lực tư duy, lập luận độc lập của học sinh.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị thực tiễn đối với:

  • Giáo viên dạy môn Lịch sử tại các trường THPT: Sử dụng trực tiếp hệ thống câu hỏi trắc nghiệm chuẩn hóa trong chương III để thiết kế các bài kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết và ôn tập học kỳ cho học sinh lớp 10.
  • Sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử và học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử: Tham khảo quy trình 4 bước biên soạn mồi nhử thực chứng và kỹ thuật lập ma trận đề trắc nghiệm khách quan.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn và khảo thí: Tham khảo cơ sở dữ liệu thực nghiệm về thực trạng đề thi và kết quả khảo thí môn Sử giai đoạn 1995 - 2009 phục vụ công tác xây dựng chính sách đổi mới thi cử.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát 10 đề thi tốt nghiệp THPT môn Lịch sử (1999 - 2005) trong khóa luận chỉ ra tỷ lệ câu hỏi tư duy bậc thấp là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát của Th.S Nguyễn Thục Anh được tác giả trích dẫn cho thấy: trong tổng số 71 câu hỏi của 10 đề thi tốt nghiệp, có tới 61 câu hỏi thuộc mức độ tư duy bậc thấp (với các yêu cầu như "nêu", "trình bày", "cho biết", "là gì"), chiếm tỷ lệ 86,00%. Số câu hỏi đòi hỏi tư duy bậc cao ("phân tích", "nhận xét") chỉ chiếm 10 câu, tương đương 14,00%.

2. Tỷ lệ bài thi môn Lịch sử không đạt yêu cầu trong kỳ thi tuyển sinh vào Trường ĐH Sư phạm TP. Hồ Chí Minh các năm 2005 và 2006 là bao nhiêu?
Theo thống kê lưu trữ của Trường ĐH Sư phạm TP. Hồ Chí Minh được nêu trong khóa luận:

  • Năm 2005: Trong tổng số 8.956 bài thi, có 8.648 bài thi không đạt yêu cầu (dưới 4,5 điểm), chiếm tỷ lệ 96,56% (số bài đạt từ 5 điểm trở lên chỉ chiếm 3,44%).
  • Năm 2006: Trong tổng số 9.241 bài thi, có 8.628 bài thi không đạt yêu cầu, chiếm tỷ lệ 93,37% (số bài đạt từ 5 điểm trở lên chỉ chiếm 6,63%).

3. Khóa luận đề xuất quy trình mấy bước để xây dựng các phương án gây nhiễu ("mồi nhử") hấp dẫn trong câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn?
Tác giả đề xuất quy trình gồm 4 bước kỹ thuật:

  • Bước 1: Ra các câu hỏi mở về lĩnh vực, nội dung kiến thức dự định kiểm tra để học sinh tự viết câu trả lời tự do.
  • Bước 2: Thu bài trả lời của học sinh, loại bỏ các câu trả lời đúng, chỉ giữ lại các câu trả lời sai.
  • Bước 3: Thống kê, phân loại các dạng câu sai và xác định tần số xuất hiện của từng lỗi sai.
  • Bước 4: Ưu tiên lựa chọn những câu trả lời sai có tần số xuất hiện cao nhất để biên soạn thành các mồi nhử (câu nhiễu) trong câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn.

4. Kết quả khảo sát 20 giáo viên THPT tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy thực trạng sử dụng hình thức kiểm tra đánh giá như thế nào?
Kết quả thống kê cho thấy: 65% (13/20) giáo viên sử dụng phương pháp kiểm tra tự luận truyền thống; 40% (8/20) giáo viên có sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan; 60% (12/20) giáo viên chỉ tổ chức kiểm tra theo quy định định kỳ của nhà trường; và 60% (12/20) giáo viên có ý định thay đổi phương pháp kiểm tra đánh giá.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đoàn Thị Hằng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về đo lường giáo dục và xác lập quy trình biên soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông. Qua việc khảo sát thực trạng với số liệu định lượng cụ thể từ giáo viên, học sinh và các kỳ thi quốc gia, đề tài đã phản ánh tính cấp thiết của việc đổi mới khâu khảo thí môn Lịch sử. Nghiên cứu đóng góp một hệ thống câu trắc nghiệm khách quan hoàn chỉnh cho phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX (Lịch sử 10 - Ban Cơ bản), được thẩm định qua thực nghiệm sư phạm và phân tích tham số đo lường thực tế.