CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ, TAM QUAN TRONG CUA ĐỒ DUNG TRUC QUAN TRONG DAY HỌC LICH SỬ 6 TRUONG TRUNG HOC PHO THONG.1 Thực trang của việc day học Lich sử ở trường phổ thông hiện nay. Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/ 1991) đã khẳng định và phát triển đường lối đổi mới kinh tế- xã hội với luận điểm: Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đâu. Quan điểm chỉ đạo đó đã được đưa vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Diéu 35 Hiến pháp năm 1992 ghi rõ: Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển giáo đục nhằm nắng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bổi đưỡng nhân tài. Với những tư tưởng đổi mới cả về nhận thức lẫn hành động, Đẳng ta đã giành hẳn một hội nghị - Hội nghị Ban chấp hành Trung Ương lẳn thứ II (tháng 12/ 1996) để thảo luận và đưa ra nghị quyết 02 xác định đường lối, chủ trương về phát triển Giáo dục - Đào tạo. Dưới ánh sáng của Hội nghị Trung Ương II, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta đã có những bước phát triển mới và thu được những thanh tựu to lớn.
Sự nghiệp giáo dục đã đạt được những chuyển biến tích cực vể quy mô, chất lượng, hiệu quả, góp phan không nhỏ thực hiện những mục tiêu về dân trí, nhân lực, nhân tài. Khóa luận tốt nghiệp Sử dụng sơ đồ trong dạy học lịch sử Đội ngũ giáo viên đã được quan tâm để khấc phục khó khăn, đáp ứng được với yêu cầu đổi mới trong việc nâng cao trình độ và tu dưỡng phẩm chất, nhân cách của người thấy giáo. Nhiều chính sách mới của nhà nước đã được ban hành nhằm khuyến khích về tinh thần, đãi ngộ về vật chất đối với người thấy như: Phong tặng các danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, huy chương vì sự nghiệp giáo dục, miễn học phí cho sinh viên sư phạm. Những chính sách này đã giúp cho sinh viên cũng như giáo viên yên tâm hơn trong việc dạy và học.
Tuy nhiên, do những hạn chế về nguồn lực kinh tế, về khả năng quản lý, chế độ chính sách chưa đẩy đủ và hợp lý nên đội ngũ giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống. Chính diéu này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng day và học. Giáo viên vừa thiếu, vừa yếu nhất là giáo viên công tác ở vùng sầu, vùng xa. Tâm tư nguyện vọng của đội ngũ giáo viên, những vấn để bức xúc của họ chưa được tập hợp nghiên cứu, để đạt lên các cấp có thẩm quyển để giải quyết.
Tình trạng quan liêu hoá trong đào tạo giáo viên ở các trường đại học sư phạm cũng đang diễn ra như: Không quan tâm điểu tra nắm vững đội ngũ giáo viên do mình đào tạo đang hành nghề và phát triển nghề nghiệp như thế nào sau khi ra trường. Đây cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến hạn chế nói trên. Ngoài những nguyên nhân khách quan nói trên còn những nguyên nhân chủ quan từ phía đội ngũ giáo viên dạy lịch sử ở trường THPT. Giáo viên nhìn chung chưa có phương pháp day học thích hợp, chưa có được sự sáng tạo trong phong cách dạy học.
Vì vậy gây sự nhàm chán cho học sinh trong việc tiếp thu môn học. Môn Sử dần dẫn không còn được học sinh coi trọng. Trong khi đó, bộ môn Lịch sử luôn giữ một vai trò quan trọng trong chương trình đào tạo học sinh trung học phổ thông vì bộ môn Lịch sử rất có ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Do nhận thức chưa đẩy đủ hoặc phiến diện về vai trò.
ý nghĩa, chức năng của bộ môn Lịch sử, nhiều người đã tỏ thái độ coi thường. không Trang 18 Khóa luận tốt nghiệp Sử sơ đồ trong dạy học lịch sử đối xử với bộ môn này “bình đẳng” như với các bộ môn khác. Nhiều nhà quản lý cho rằng, trong thời kì khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng, sử học cũng như các khoa học xã hội và nhân văn khác không thể có vị trí ngang hàng với các môn khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Diéu này đã ảnh hưởng rất sâu sắc tới “thái độ” của học sinh THPT khi đón nhận bộ môn này.
Ở nước ta, với bể day truyền thống dân tộc ngàn năm nên khoa học Lịch sử đã thu hút sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu của nhiều người, đặc biệt là của các nhà chuyên môn. Môn Lịch sử được đưa vào giảng dạy tại các trường ở nước ta từ lâu. Từ sau cách mạng tháng 8/1945, trên cơ sở nến tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác- Lénin, tiếp thu kinh nghiệm truyền thống dân tộc, Dang và nhà nước ta đã đặt vị trí môn lịch sử xứng đáng trong nền giáo dục quốc dân. Việc xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa và biên soạn các tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh, việc quan tâm đào tạo đội ngũ giáo viên giảng dạy Lịch sử cho các cấp học ngày càng được quan tâm.
Nhờ vậy đội ngũ giáo viên dạy Sử đã phát triển về số lượng và chất lượng, góp phan đặt môn lịch sử vào vị trí xứng đáng như nó vốn có, thực hiện đúng theo lời dạy của Bác: “Dan ta phải biết Sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Hiện nay, do vẫn còn một số tổn tại trong quan niệm về vị trí, vai trò của bộ môn lịch sử nói trên trong trường phổ thông và trong việc giáo dục thế hệ trẻ, do tác động của kinh tế thị trường nên rất ít học sinh đủ “dũng cảm” thi vào khoa Sử của các trường Đại học Sư phạm. Trong khi đó thì việc đào tạo tại các khoa sử của các trường Đại học Sư phạm còn phiến diện, ít gin với thực tế giảng day ở trường phổ thông, chưa có những cuộc diéu ta cơ bản thật dài hơi để xem sinh viên được đào tạo phát huy tác dụng ở [THES VIỆN Trương ØÐ4¡-Học Su-Puam Trang 19 Khóa luận tốt nghiệp Sử dụng sơ đồ trong dạy học lịch sử trường phổ thông như thế nào, cái gì cẩn tiếp tục phát huy, cái gì cần phải điều chỉnh.
Điều nay có ý nghĩa rất lớn cho chuyên môn của các em sau này. Ở các trường phổ thông thì môn Sử bị coi là “môn phy”, không được các nhà quản lý các trường phổ thông quan tâm chú ý khiến cho chất lượng dạy học môn sử thêm tdi tệ và người ta càng có cớ để coi thường môn Sử. Cơ chế thị trường tác động tới việc dạy thêm, học thêm làm cho giáo viên Lich sử cảm thấy thua thiệt với các đổng nghiệp về kinh tế dẫn đến không an tâm, chuyên chú trau dổi chuyên môn nghiệp vụ, không tâm huyết với nghé. Bên cạnh đó, việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử chưa được coi trọng trong các trường phổ thông.
Nhà trường chưa chú ý nắng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên, trong khi đó việc dạy học Lịch sử đòi hỏi cẩn phải có một trình độ uyên thâm liên quan đến nhiều bộ môn mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của việc dạy học Lịch sử. Trên thực tế, hiện nay còn không ít giáo viên giảng dạy Lịch sử chỉ chạy theo chương trình và sách giáo khoa nặng nể, lo đối phó với thi cử, thi đua đạt thành tích. Giáo viên không có khả năng hoặc những điều kiện cần thiết để tổ chức hoạt động ngoại khoá, hướng dẫn học sinh thực hành và tham gia các hoạt động xã hội. Yêu cầu hiểu biết Lịch sử, nhu cầu cuộc sống hiện tại và tương lai đặt ra cho toàn xã hội, ngành giáo dục, nhất là đội ngũ giáo viên nhiều nhiệm vụ cấp bách nhằm góp phan bổi dưỡng, bổ sung, nâng cao ki năng nghề nghiệp cho các giáo viên lịch sử ở trường phổ thông trung học, phát huy những mặt mạnh, khắc phục những hạn chế, nhược điểm nhằm nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử ở trường phổ thông.
Trang 20 Khóa luận tốt nghiệp Sử dụng sơ đồ trong dạy học lịch sử 1.2 Yêu cầu cấp bách của việc đổi mới nội dung và phương pháp day học Lịch sử ở trường phổ thông. Nhân loại đã bước vào thập niên đầu của thế kỉ XXI với những bước chuyển vô cùng to lớn. Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nền kinh tế tri thức đang đóng vai trò quyết định trong sản xuất vật chất. Con người sống trong một xã hội ma khoảng cách vé không gian được rút ngắn hơn bao giờ hết nhờ những phương tiện thông tin hiện đại.
Xu thế toàn cấu hoá đã trở thành một xu thế không cưỡng lại được, con người phải thay đổi nhịp sống của mình thì mới nắm bắt kịp thời những thay đổi nhanh chóng của nhân loại, mới thích ứng và phát triển. Sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã đặt nền giáo dục thế giới trước hai sức ép lớn của việc truyền thụ và tiếp thu kiến thức: Khối lượng kiến thức ngày càng nhiều, thời gian và điều kiện tiếp thu lại có hạn mà yêu cẩu về chất lượng đào tạo phải ngày càng cao. Dé đó đổi mới nội dung và phương pháp dạy học có tầm quan trọng đặc biệt. Bối cách xã hội do đó tác động rất lớn đến giáo dục đào tạo ở tất cả các nước trên thế giới.
Tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, déu phải tiến hành đổi mới giáo dục, coi đổi mới giáo dục là một torng những chiến lược phát triển đất nước. Hội déng về “Giáo dục thế kỉ XXI" của UNESCO, Liên Hiệp Quốc đã đưa ra khuyến cáo về 4 trụ cột của giáo dục: = Học để biết. = Học để làm việc. * Hoc để cùng chung sống.
* Học để làm người. Khóa luận tốt nghiệp Sử dụng sơ đồ trong dạy học lịch sử Ngoài mục tiêu đào tạo ra những con người sống tốt, có trách nhiệm đối với cộng đồng, nền giáo dục các nước còn phải chú trọng trang bị những năng lực chia khoá để con người có thể thích ứng và phát triển trong một xã hội phát triển và thường xuyên biến đổi. Đó là các năng lực sáng tạo, năng lực hợp tấc, năng lực tự khẳng định mình, năng lực hành động có hiệu quả. Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, vấn để hợp tác và hội nhập quốc tế đã trở thành một nhu cầu phát triển với tất cả các nước.