Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông, việc chuyển dịch phương pháp dạy học từ lối truyền thụ một chiều sang phát triển năng lực tư duy, năng lực thực hành và tính tích cực chủ động của học sinh là yêu cầu cấp thiết. Môn Lịch sử tại các trường Trung học phổ thông (THPT) có đặc trưng nhận thức chuyên biệt: giáo viên và học sinh không thể trực tiếp quan sát hoặc tái tạo lại các sự kiện quá khứ đã diễn ra. Việc lĩnh hội tri thức lịch sử bắt buộc phải tuân theo quy luật nhận thức biện chứng từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, thông qua việc tạo biểu tượng chính xác để hình thành khái niệm và quy luật lịch sử.

Tuy nhiên, thực tiễn dạy học bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông trong thời gian dài vẫn tồn tại tình trạng nặng về phương pháp truyền thống "thầy đọc, trò chép", biến giờ học thành các tiết thuyết giảng khô khan. Kênh hình trong sách giáo khoa tuy đã được tăng cường về số lượng nhưng phần lớn chỉ được sử dụng mang tính chất minh họa ngoài lề hoặc bị bỏ ngỏ, học sinh học tập theo lối đối phó, ghi nhớ máy móc. Để giải quyết mâu thuẫn này, tác giả Bùi Thị Trúc Thuyên đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Sư phạm Lịch sử tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2010) với đề tài: "Thiết kế và hướng dẫn sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử nhằm góp phần nâng cao chất lượng bộ môn (Phần lịch sử thế giới - Chương trình lịch sử lớp 10 - Ban cơ bản)".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) của việc khai thác, sử dụng kênh hình và đồ dùng trực quan trong dạy học môn Lịch sử ở trường THPT.
  2. Đánh giá thực trạng sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử cấp THPT, chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất các nguyên tắc, giải pháp cùng kỹ năng sư phạm để khai thác kênh hình như một nguồn cung cấp tri thức độc lập.
  3. Nghiên cứu toàn bộ chương trình và tiến hành thiết kế, biên soạn hệ thống tư liệu cùng hệ thống câu hỏi hướng dẫn khai thác chi tiết từng kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử thế giới lớp 10 (Ban cơ bản).
  4. Xây dựng giáo án và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường phổ thông (Bài 31: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII) nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của hệ thống phương pháp đã đề xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy trình thiết kế và phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình (tranh ảnh, hình vẽ, bản đồ, sơ đồ) trong dạy học lịch sử.
  • Phạm vi nội dung: Hệ thống kênh hình trong chương trình Lịch sử lớp 10 (Ban cơ bản) - Phần Lịch sử thế giới (từ thời nguyên thủy, cổ đại, trung đại đến cận đại), có bổ sung các tư liệu hình ảnh ngoài sách giáo khoa có liên quan.
  • Phạm vi không gian và thời gian thực nghiệm: Lớp 10C1 và lớp 10C3 tại Trường THPT Trần Phú, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; khóa luận hoàn thành vào tháng 5 năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận đa ngành bao gồm triết học duy vật biện chứng, tâm lý học - giáo dục học, sinh lý học thần kinh và lý luận dạy học bộ môn:

  • Quy luật nhận thức triết học: Dựa trên luận điểm của V.I. Lênin về con đường biện chứng của nhận thức: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn"; kết hợp quan điểm sư phạm của K. Usinxki và quan điểm trực quan thực tiễn của Hồ Ngọc Đại.
  • Học thuyết phản xạ có điều kiện của I.P. Pavlốp: Cơ chế tương tác giữa hệ thống tín hiệu thứ nhất (cảm tính, tri giác qua giác quan) và hệ thống tín hiệu thứ hai (tư duy ngôn ngữ, khái quát hóa, hình thành khái niệm).
  • Thuyết thông báo và nghiên cứu tâm lý học tiếp nhận: Ứng dụng công thức năng lực truyền tải thông tin $C = H/T$ (theo tài liệu Phương tiện dạy học của tác giả Tô Xuân Giáp, 1997) và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm của UNESCO về tỷ lệ tiếp nhận, ghi nhớ thông tin qua các giác quan.
Kênh tiếp nhận giác quan Năng lực truyền tải ($bit/s$) Tỷ lệ tiếp nhận thông tin (%)
Thị giác (Nhìn) $1,6 \times 10^6$ 83,0%
Thính giác (Nghe) $0,32 \times 10^6$ 11,0%
Khứu giác (Ngửi) - 3,5%
Xúc giác (Sờ / Chạm) $0,16 \times 10^6$ 1,5%

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các số liệu thực nghiệm tâm lý học về hiệu quả ghi nhớ theo phương thức tác động: nghe đơn thuần (nhớ 20%), nhìn đơn thuần (nhớ 30%), kết hợp nghe và nhìn (nhớ 50%), nói được (nhớ 80%), vừa nói vừa trực tiếp thực hành làm (nhớ 90%).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp logic và lịch sử: Phân tích, tổng hợp và chứng minh bản chất khoa học của việc ứng dụng phương tiện trực quan trong dạy học lịch sử theo trình tự tiến trình bài học.
  • Phương pháp tổng hợp tài liệu: Thu thập, đối chiếu tài liệu giáo khoa, tài liệu chuyên khảo về phương pháp dạy học lịch sử của các tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Tiên Thuận, Nguyễn Thị Côi, Đặng Văn Hồ.
  • Phương pháp phân tích bản đồ, tranh ảnh: Khảo sát cấu trúc, xuất xứ, nội dung thể hiện của từng hình ảnh, lược đồ để xây dựng kịch bản hướng dẫn học sinh tiếp cận.
  • Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Thu thập thông tin thực tế từ giáo viên và học sinh phổ thông về thói quen, mức độ khai thác đồ dùng trực quan trong các giờ học lịch sử.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm có đối chứng tại 2 lớp học (10C1 và 10C3) Trường THPT Trần Phú, kiểm tra đánh giá mức độ tiếp thu và chất lượng nhận thức của học sinh.

Nguồn dữ liệu của đề tài gồm Sách giáo khoa Lịch sử 10 (Ban cơ bản), Sách giáo viên Lịch sử 10, hệ thống tranh ảnh, bản đồ lịch sử được lưu trữ tại Thư viện Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, Thư viện Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh và tư liệu thu thập thực tế tại trường THPT.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Sử dụng kênh hình trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT

Chương I tập trung làm rõ bản chất lý luận, phân loại đồ dùng trực quan, đánh giá thực trạng và đưa ra các nguyên tắc, giải pháp mang tính sư phạm.

Tác giả phân loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử thành hai nhóm lớn:

  • Nhóm đồ dùng trực quan tạo hình: Bao gồm mô hình, sa bàn, đồ phục chế, hình vẽ, phim ảnh tư liệu lịch sử (như tranh Người đi săn hươu nai, ảnh Nguyễn Ái Quốc ở Đại hội Tua 1920, Lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân 22-12-1944), tranh nghệ thuật chân dung (Chiến binh Giacôbanh).
  • Nhóm đồ dùng trực quan quy ước: Gồm bản đồ lịch sử (chia thành bản đồ tổng hợp và bản đồ chuyên đề); hệ thống niên biểu (niên biểu tổng hợp, niên biểu chuyên đề, niên biểu so sánh, bảng so sánh); đồ thị diễn tả sự biến thiên phát triển; sơ đồ thể chế (như Bộ máy nhà nước Mĩ theo Hiến pháp 1787) và hình vẽ bảng phấn.

Về nguyên tắc sư phạm, việc sử dụng kênh hình phải tuân thủ nghiêm ngặt 3 nguyên tắc:

  1. Đúng lúc: Đưa hình ảnh/bản đồ ra đúng thời điểm tiến trình bài giảng yêu cầu, không trưng bày ồ ạt làm phân tán sự chú ý của học sinh.
  2. Đúng chỗ: Bố trí vị trí treo bản đồ ở góc bên phải phía trên bảng đen, nơi đủ ánh sáng để toàn bộ học sinh (kể cả hai dãy sát tường và cuối lớp) quan sát rõ ràng. Khi chỉ bản đồ, giáo viên đứng bên phải, chỉ hướng dòng sông từ thượng lưu xuống hạ lưu theo dòng chảy.
  3. Đủ cường độ: Hoạt động quan sát trên cùng một dạng tranh ảnh không được kéo dài quá 15 phút. Căn cứ theo chỉ dẫn vệ sinh học đường của bác sĩ chuyên khoa mắt, việc sử dụng phương tiện nghe nhìn chỉ nên thực hiện 3 - 4 lần trong một tuần và thời gian hiển thị không vượt quá 20 - 25 phút trong một buổi học để tránh quá tải thị giác.

Khảo sát thực trạng cho thấy sự chuyển biến lớn về chương trình: số lượng kênh hình đã tăng từ 22 hình (sách giáo khoa cũ) lên 79 hình (sách giáo khoa mới lớp 10). Tuy nhiên, phần lớn giáo viên vẫn có tâm lý ngại sử dụng, sợ mất thời gian, xem kênh hình chỉ để minh họa phụ họa. Khi được phỏng vấn, đa số học sinh chỉ đọc lại dòng chú thích dưới chân tranh mà không nắm được nội dung lịch sử cốt lõi ẩn chứa bên trong.

Để đổi mới, tác giả đề xuất quy trình 4 bước làm việc với tranh ảnh và lược đồ:

  • Quy trình khai thác tranh ảnh: (1) Cho học sinh quan sát tổng thể; (2) Giáo viên đặt câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề; (3) Học sinh trình bày kết quả quan sát, tranh luận và bổ sung; (4) Giáo viên nhận xét, chuẩn hóa kiến thức và kết luận nội dung bài học.
  • Quy trình khai thác lược đồ: (1) Hướng dẫn học sinh quan sát ranh giới, địa danh và hệ thống ký hiệu quy ước; (2) Giáo viên đặt câu hỏi định hướng logic; (3) Học sinh đọc lược đồ và trình bày diễn biến; (4) Giáo viên hoàn thiện nội dung và giúp học sinh rút ra nhận xét, quy luật lịch sử.

Chương II: Sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử thế giới lớp 10 (Ban cơ bản)

Chương II là phần trọng tâm ứng dụng của khóa luận, bao quát toàn bộ 31 tiết phần Lịch sử thế giới lớp 10 (gồm 16 tiết Lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ - trung đại và 15 tiết Lịch sử thế giới cận đại). Tác giả tiến hành thiết kế phương pháp khai thác chi tiết từng kênh hình trong sách giáo khoa gắn với mục tiêu bài dạy, câu hỏi thảo luận và nội dung kiến thức cung cấp mở rộng:

Tên bài học Tên kênh hình trong SGK Mục đích sử dụng và kiến thức khai thác
Bài 1: Sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên thủy Hình 1: Người tối cổ Giúp học sinh nhận thức bước chuyển từ vượn thành người. So sánh dung tích hộp sọ: vượn cổ ($600 - 680\text{ cm}^3$), Người tối cổ ($\sim 1000\text{ cm}^3$), Người hiện đại ($1400 - 1600\text{ cm}^3$).
Bài 3: Các quốc gia cổ đại phương Đông Hình 2: Tranh khắc trên tường hầm mộ ở Te-bơ (Ai Cập) Khai thác cảnh sinh hoạt cung đình, nghệ thuật trang trí hầm mộ hoàng gia và sự linh thiêng của thành phố cổ Te-bơ thời Trung và Tân vương quốc.
Hình 3: Quách vàng tạc hình vua Tu-tan-kha-môn (1361-1352 TCN) Minh họa quyền lực tối cao của Pha-ra-ông và quan niệm về sự bất tử của linh hồn ("Ka") trong thể chế chuyên chế cổ đại phương Đông.
Hình 4: Cổng I-sơ-ta thành Ba-bi-lon ở Lưỡng Hà Giúp học sinh hiểu về quy mô thành cổ chu vi hơn 13km, cổng cao 12m xây bằng gạch men xanh chạm nổi thú vật và ngôi đền thờ thần Ma-đúc với ngọn tháp 7 tầng cao 90m.
Hình 5: Kim tự tháp ở Ai Cập Khai thác kỹ thuật kiến trúc: Kim tự tháp Kê-ốp cao $\sim 180\text{m}$, diện tích $52.900\text{ m}^2$, xây từ 2.300.000 tảng đá (mỗi tảng nặng $\sim 2,5$ tấn), khe ghép đá khít dưới 5mm, huy động 10 vạn nhân công suốt 30 năm.
Bài 4: Các quốc gia cổ đại phương Tây - Hi Lạp và Rô-ma Hình 6: Xưởng chế biến dầu ô liu ở Nam I-ta-li-a Chứng minh sự phát triển của kinh tế thủ công nghiệp và trang trại quy mô lớn (Latifundia) với kho 40 chum chứa gần 6000 lít dầu ăn dựa trên lao động nô lệ.
Hình 7: Tượng Pê-ri-clét (495? - 429 TCN) Phân tích nền dân chủ chủ nô A-ten phát triển đỉnh cao: vai trò của Đại hội nhân dân (500 người), Tòa án nhân dân (6000 thẩm phán), chế độ bốc thăm và trả lương công chức.
Hình 8: Lược đồ đế quốc Rô-ma thời cổ đại Sử dụng lược đồ câm yêu cầu học sinh điền địa danh, tái hiện tiến trình bành trướng gần 200 năm (thống nhất bán đảo Ý và làm chủ toàn bộ lưu vực Địa Trung Hải).
Hình 9: Khải hoàn môn Trai-an (Bê-nê-ven-tô) Khắc họa nghệ thuật kiến trúc kỷ niệm chiến thắng và sự phồn vinh của Đế quốc Rô-ma cổ đại.

Chương III: Thực nghiệm: Sử dụng kênh hình vào giảng dạy Bài 31: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII

Chương III trình bày quá trình thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra hiệu quả thực tế của đề tài:

  • Địa bàn và đối tượng thực nghiệm: Tiến hành tại Trường THPT Trần Phú, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh trên hai lớp học sinh khối 10: lớp 10C1 và lớp 10C3, dưới sự phối hợp chuyên môn của giáo viên bộ môn Lịch sử (cô Phạm Thị Quỳnh Giao và cô Nguyễn Thị Thủy).
  • Quy trình triển khai: Xây dựng giáo án thực nghiệm chi tiết cho Bài 31 (Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII), chuẩn bị hệ thống tranh ảnh, bản đồ chuyên đề liên quan đến tình hình nước Pháp trước cách mạng, chân dung các nhà tư tưởng Khai sáng, diễn biến tấn công pháo đài - nhà ngục Ba-xti (Bastille), lược đồ chiến sự và nền chuyên chính Giacôbanh.
  • Tổ chức dạy học: Áp dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề, hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm, tự khai thác kiến thức lịch sử qua kênh hình theo đúng 4 bước đã thiết kế, sau đó tiến hành kiểm tra đánh giá để đo lường mức độ tiếp thu và khả năng khắc sâu biểu tượng lịch sử của học sinh.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra với những kết quả cụ thể được ghi nhận trong văn bản:

  • Về mặt thống kê và phân loại tư liệu: Khóa luận đã hệ thống hóa sự phát triển kênh hình sách giáo khoa Lịch sử 10 (tăng từ 22 lên 79 kênh hình); phân định rõ cấu trúc 31 tiết học phần Lịch sử thế giới (16 tiết cổ - trung đại, 15 tiết cận đại); cung cấp các số liệu định lượng về năng lực truyền tải của thị giác ($1,6 \times 10^6\text{ bit/s}$ so với $0,32 \times 10^6\text{ bit/s}$ của thính giác) và các thông số kỹ thuật lịch sử chi tiết cho từng bài học.
  • Hệ thống giải pháp và quy trình sư phạm: Xây dựng tường minh quy trình 4 bước khai thác tranh ảnh và quy trình 4 bước làm việc với lược đồ lịch sử; xác lập giới hạn an toàn thị giác trong dạy học (không quá 15 phút liên tục cho một hoạt động, không quá 3-4 lần/tuần và không quá 20-25 phút/tiết).
  • Đóng góp so với các công trình trước: Tác giả đã chỉ ra rằng các công trình trước đây (như nghiên cứu của Nguyễn Thị Côi, Trịnh Tiên Thuận, Phan Ngọc Liên, Tô Vũ Tuấn Anh, Huỳnh Thị Hà) hoặc chỉ thuần túy trình bày lý luận chung chung, hoặc chỉ dừng lại ở việc sưu tầm hình ảnh minh họa cho phần lịch sử Việt Nam, chưa gắn kết cụ thể vào từng bài học. Khóa luận này đã khắc phục triệt để khoảng trống đó bằng cách thiết kế đồng bộ từ lý luận, hướng dẫn chi tiết từng hình ảnh trong sách giáo khoa Lịch sử thế giới 10 đến thực nghiệm giảng dạy một giáo án hoàn chỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được đề cập: Do số lượng kênh hình có sẵn trong một số bài của sách giáo khoa còn ít và chưa thực sự cân xứng với kênh chữ (tiêu biểu như Bài 1: Sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên thủy, Bài 2: Xã hội nguyên thủy), tác giả buộc phải tự sưu tầm bổ sung tư liệu từ bên ngoài. Đồng thời, việc giao bài tập về nhà yêu cầu học sinh tự tra cứu, tìm hiểu trước kênh hình còn gặp nhiều trở ngại đối với học sinh ở các vùng nông thôn, miền núi do điều kiện học tập và phương tiện còn thiếu thốn.
  • Hướng mở nghiên cứu: Mở rộng phạm vi thiết kế và hướng dẫn sử dụng kênh hình cho các phần còn lại của chương trình như phần Lịch sử Việt Nam lớp 10, cũng như chương trình Lịch sử lớp 11 và lớp 12 ở cấp THPT.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn thiết thực đối với:

  • Sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử: Cung cấp cơ sở lý luận vững chắc, các chỉ số tâm lý học tiếp nhận và phương pháp thiết kế bài giảng trực quan chuẩn mực phục vụ thực tập sư phạm và làm khóa luận tốt nghiệp.
  • Giáo viên Lịch sử cấp THPT: Cung cấp hệ thống câu hỏi khai thác mẫu, tư liệu thuyết minh chi tiết cho từng bài học Lịch sử thế giới lớp 10 (Ban cơ bản), giúp chuyển đổi giờ học từ thuyết giảng truyền thống sang tổ chức cho học sinh chủ động làm việc với tư liệu hình ảnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả khóa luận đưa ra những nguyên tắc thời gian và cường độ nào khi sử dụng kênh hình để bảo vệ thị giác của học sinh?
Tác giả dẫn khuyến cáo y khoa rằng không nên để học sinh tiếp xúc với cùng một dạng hoạt động quan sát tranh ảnh liên tục quá 15 phút (vì khả năng làm việc giảm sút nhanh). Việc sử dụng phương tiện nghe nhìn trên lớp không được vượt quá 3 đến 4 lần trong một tuần và thời gian hiển thị không quá 20 - 25 phút trong một buổi dạy.

2. Sự khác biệt cơ bản về số lượng kênh hình giữa sách giáo khoa Lịch sử 10 cũ và mới được tác giả ghi nhận là bao nhiêu?
Trong chương trình đổi mới sách giáo khoa, số lượng kênh hình đã được tăng lên từ 22 hình trong sách giáo khoa cũ lên 79 hình trong sách giáo khoa mới.

3. Khóa luận đưa ra quy trình mấy bước để giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác một bức tranh ảnh lịch sử?
Quy trình gồm 4 bước: (1) Cho học sinh quan sát tổng quát để xác định nội dung; (2) Giáo viên nêu câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề; (3) Học sinh trình bày kết quả tìm hiểu và thảo luận; (4) Giáo viên nhận xét, bổ sung và hoàn thiện kiến thức lịch sử cần truyền đạt.

4. Dữ liệu giải phẫu so sánh dung tích hộp sọ trong Bài 1 được tác giả cung cấp gồm những số liệu nào?
Dung tích hộp sọ của loài vượn cổ khoảng $600 - 680\text{ cm}^3$, Người tối cổ khoảng $1000\text{ cm}^3$ và Người hiện đại đạt từ $1400 - 1600\text{ cm}^3$.

5. Địa bàn và các lớp học sinh được lựa chọn để tiến hành thực nghiệm sư phạm trong khóa luận là ở đâu?
Thực nghiệm được tiến hành tại lớp 10C1 và lớp 10C3 thuộc Trường THPT Trần Phú, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bài 31: Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Trúc Thuyên đã luận giải toàn diện cơ sở khoa học và tầm quan trọng của việc sử dụng kênh hình như một nguồn nhận thức độc lập trong dạy học Lịch sử tại trường THPT. Công trình đã thiết kế chi tiết mục tiêu, hệ thống câu hỏi định hướng và nội dung thuyết minh cho toàn bộ hệ thống kênh hình thuộc phần Lịch sử thế giới lớp 10 (Ban cơ bản). Kết quả nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Trần Phú đã khẳng định tính khả thi của đề tài, góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử theo hướng phát huy tính chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh.