CHƯƠNG I. SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC BỘ MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT I. CƠ SO KHOA HỌC CUA VIỆC SỬ DỤNG KENH HÌNH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬỞ TRƯỜNG THPT 1. ! Xuất phát từ quy luật nhận thức của triết lọc Trên cơ sở quan điểm vẻ ban chat vật chat của thé giới, ban chất năng động sáng tạo của ý thức cỏ mối quan hệ biện chứng giữa vật chat và ý thức, chủ nghĩa duy vật biện chứng xây đựng nên một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với mọi hoạt động nhận thức va thực tién của con người.
Nguyên tắc đó là: trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan đông thời đồng thời phát huy tinh năng động của chủ quan. Theo nguyên tắc phương pháp luận này, mọi hoạt động nhận thức và thực tién của con người chỉ có thể đúng đắn, thành công và có hiệu quả khi và chỉ khi thực hiện đông thời giữa việc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng thực tế khách quan với phát huy tính nang động chủ quan, phát huy tính năng động chú quan phải dựa trên cơ sở va trong phạm vi điều kiện khách quan, chống chủ quan duy ý chí trong nhận thức vả thực tiền. Ngay tử khi xuất hiện, con người đã nảy sinh nhu câu nhận thức vẻ chính mình và thé giới xung quanh. Nhưng lúc dầu, nhận thức của con người chỉ là những quan niệm vẻ nguồn gốc, tô tiên.
Với thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức của con người cảng phong phú và sâu sắc. Đặc biệt từ khi con người bắt dau nghiên cứu khoa học. chủ nghĩa duy vật lịch sử ra đời. chưa có một ai hiểu và phat biểu một cách chính xác, hoàn chỉnh vẻ qua trình nhận thức như Lé-nin: “Tir trực quan sinh động dén tư duy trừu tượng va từ tư duy trừu tượng trở vẻ thực tiền".
Như vậy, từ khi xuất hiện va trong quá trinh phát triển, nhu cầu nhận thức của con người cũng ngày cảng chính xác, sâu sắc hon. Muốn đáp ứng được yêu cau đó, SWTH: Bùi Thị Trúc Thuyên Trang 12 Khóa luận tắt nghiệp Khoa Lịch Sử - ĐHSP TPHCM con người phải nhận thức được đổi tượng của nhu cầu là gi. ta thấy nhận thức xuất phát từ nhu cau thực tiền. chính môi trường thực tién sẽ cung cắp những hinh anh cụ thé của sự vật.
hiện tượng cụ thé. Điều đó đáp ứng một phản của khái niệm trực quan sinh động — lá giai đoạn “nhan thức cảm tinh”, qua qua trình phan tích, tong hop, khái quát. - la giai đoạn “nhận thức li tính” sẽ cho ra những khái niệm, quy luật, phạm tri. Chính trực quan sinh động là cơ sở hình thành khái niệm.
Nếu trực quan không day đủ thi khái niệm hình thành sẽ thiểu cơ sở thực tế, vả néu trực quan không khách quan thi khái niệm sẽ không phản ánh được day đủ nội dung, ban chat của các sự vật hiện tượng. Vi dụ; Một đứa bé chưa bao giờ nhìn thấy một cái ghế thì khi một người hỏi bẻ cái ghé la gi?, thì bé không không trả lời được. Nếu đứa bẻ nhìn thấy cái ghé và nghe một người mô tả hình dang. công dung của cải ghé (trực quan bằng lời nói) thì lúc đó đứa bé sẽ trả lời được "cái ghé là gì”.
Như vậy chính vật "cái ghế” bé nhìn thấy là trực quan sinh động. Điều đó cho ta thay vải trò hết sức quan trọng của trực quan đổi với quả trình nhận thức, hay nói cách khác chính trực quan sinh động và nếu không có trực quan sinh động thi việc nhận thức của con người không thé đây đủ trong quá trình hình thành trí thức. Và điều nay đã được Lê-nin khang định ở thé ki XIX. Nha giáo dục người Nga K.
Usinxki đã phát biểu: “Phuong pháp trực quan không dựa vào biểu tượng và trừu tượng ma dựa vào những hình ảnh cụ thé do học sinh tri giác trước đó một cách độc lập hay ngay khi học dưới sự hướng dẫn của thầy". Và “cam giác, trí giác, biểu tượng hay nói một cách khác trực quan sinh động là điểm xuất phát của bat kì nhận thức `. nào là ý kiến của tập thể các Giáo sư Liên Xô trong một công trình nghiên cứu khoa học chung. Ở Việt Nam, nhà giáo dục Hỗ Ngọc Đại cũng nói: trực quan thực tién ~ đây chính là cơ sở, là động lực.
tiêu chuân cia quá trình nhận thức. Như vậy, với nguyên tắc khoa học, những ý kiến trên déu thông nhất với nhau và cho chúng ta biết qua trinh nhận thức gôm hai giai đoạn: giai đoạn cảm tính và giai đoạn lí tính. Hai quá trình nay luôn gắn bỏ nhau và có mỗi quan hệ ràng buộc nhau vẻ ban chat. * Tập thé Giáo su Liên Xô.
Từ điện Chính trị. NXB HN, trang 629, 630 SVTH: Bùi Thị Trúc Thuyén Trang 13 Khóa luận tắt nghiệp Khoa Lịch Sứ - DHSP TPHCM Trong học tập lịch sử, trước hết học sinh nhận thức được những sự kiện, quá trình cụ thé của lịch sử (thẻ giới, dan tộc. địa phương). Sự tiếp xúc của học sinh với những tri thức nảy mang tinh chất gián tiếp (thông qua giáo viên, tải liệu, kẻnh hinh.) sẽ tao thành những tri giác va biểu tượng lịch sử, đây là giai đoạn nhận thức cam tính trong học tập lich sử.
Ở giải đoạn tiếp theo bảng sức mạnh của tư duy trừu tượng, học sinh sẽ tự hình thành trong đầu óc những tri thức trừu tượng. khái quát nhớ hoạt động "xứ lí" những trí thức cụ thẻ, đây là giai đoạn nhận thức lí tính trong học tập lịch sử. Ở đây học sinh tiến hanh việc hình thành các khái niệm. Do đó trong bai giảng dạy, việc sử dụng kênh hình sé tạo cơ sở hình thành biểu tượng, nam được khái niệm từ đó sẽ giúp học sinh rút ra được quy luật lịch sử.
2 Xuất phát từ kết quả thực nghiệm của tâm lí học — giáo duc học vé sự nhận thức Tâm lí học đã chứng minh quá trình nhận thức của con người có được trọn vẹn hay không phụ thuộc vào việc sử dụng các giác quan trong quá trình nhận thức. Hệ thống giác quan của con người bao gồm: trí giác, thị giác, khứu giác, vị giác, thính giác. Tất cả đều tham gia vả có vị trí cao trong quá trình nhận thức thẻ giới khách quan của con người. Trong qua trình nhận thức nêu kết nhiều giác quan trong củng một lúc thi sự nhằm lẫn, sai sót sẽ giảm di, ngược lại độ chính xác, bẻn vững của tri thức sé tăng lên.
Đây là kết luận của các nha tâm lí học hiện đại đã rút ra qua những điều tra thực tế. Người ta tong kết mức độ anh hướng của các giác quan trong quá trình truyền thông như sau: Cách nhớ Hiệu quảte nhớ (%) Ghi nhớ bảng thính giác % Một cuộc điều tra khác của tỏ chức Giáo duc van hóa khoa học (UNESCO) của Liên Hiệp Quốc cũng đã ghi nhận. Người ta tiên hanh đưa ra một lượng thông tin băng nhiều cách ở 3 nhóm khác nhau, két qua thu được như sau: SLTH: Bùi Thị Trúc Thuyên Trang l4 Khóa luận tắt nghiệp Khoa Lịch Sử - ĐHSP TPHCM - Nhóm được truyền tải thông tin bang hình ánh thi thu nhận được 25 % lượng thong tin. - Nhóm được truyền tải thông tin bang am thanh thi thu nhận được 15 % lượng thông tin.
- Nhóm được truyền tải thông tin bằng cả hình anh va âm thanh thi nhận được 65 % lượng thông tin. Những két qua trên cho ta thay khả năng thu nhận thông tin thị giác sẻ cao hon bảng thính giác. Nhưng nếu kết hợp cả thị giác và thính giác thì quá trình thu nhận thông tin lại cảng tăng lên - tức 1a kết quả nhận thức gần đạt đến mức tối đa. Nhu vậy trong day học lich sử, giáo viên khi áp dụng kênh hình vào trong mỗi tiết dạy kết hợp với sự truyền đạt kiến thức của minh sẽ làm tăng khả năng tiếp thu kiến thức, hứng thú học tập của học sinh với bộ môn lịch sử.
Với sự ham muon được hiểu biết .các em học sinh hiện nay đã thường xuyên nghe radio, xem truyền hình. dé thu lượm thông tin mới. Do đó, day học lịch sử thông qua sử dụng kênh hình có sức thu hút hết sire mạnh mẽ ớ lứa tuổi này - “có độ nhạy cảm cao nhất vẻ nhìn va nghe”. 3 Xuất phát từ học thuyết phản xạ của 1.Pavlép LLP, Pavlếp đã qua nhiều quá trình nghiên cứu đã rút ra kết luận là phan xạ của con người là phản xạ có điều kiện.
Ví dụ: chào nhau khi gặp gỡ, tránh ô tô, xe máy khí qua đường, đừng lại khi đèn đò.đây chính là học thuyết “phản xạ có điều kiện" (lả phan xạ của con người hình thành trong cuộc sống do luyện tập) ma ông đưa ra lin đầu tiên vào năm 1904. Và sau nhiêu lần thí nghiệm, LP, Pavlôp rút ra kết luận rằng quá trình nhận thức luôn luôn có hai tín hiệu. Tuy hai tin hiệu nay không đồng thời diễn ra một lúc, cái điển ra trước cái điển ra sau nhưng chúng có mỗi liên hệ chặt chẻ với nhau: Hệ thông tín hiệu thứ nhất: lúc tín hiệu truyền di con ở dang cam tính do trí giác thông qua hệ thông giác quan. Tín hiệu này có cả ở người và động vật, là cơ sở cho hệ thong thứ hai.
SVTH: Bùi Thị Trúc Thuyên — Trang l§ Khóa luận tốt nghiệp Khoa Lịch Sứ - DHSP TPHCM Hệ thông tín hiệu thứ hai: qua quá trình tư duy ma khai quát hóa các thông tin nhận được tir tín hiệu thử nhất. Hệ thong tin hiệu thứ hai được truyền đi dưới dang li tinh lá các khái niệm. lúc nảy đã mang tính chú quan. Hệ thong tin hiệu thứ hai (biểu hiện cho khỏi lượng.
va độ bên của tri thức) liên quan chat chẽ với hệ thống tin hiệu thứ nhất vả hệ thống tin hiệu thử nhất sẽ quyết định chất lượng. khối lượng tri thức. Trong học tập lịch sử, để cho hệ thống tín hiệu thứ nhất thêm phong phú, đa dạng thi việc sử dụng phương pháp trực quan là rất can thiết. Từ đó góp phan làm cho hệ thong tín hiệu thứ hai có độ vừng chắc cao.
Độ chính xác cao như thé nào phụ thuộc vao quá trình trực quan, vả phương pháp thực nghiệm của tâm lí học ở trên đã chứng minh điều đó, 1. 4 Thuyết thông báo Thuyết nay cho rằng, quá trình day học là quá trình tác động qua lại giữa thay vả trò. hay nói đúng hơn la quá trình thông bao qua lại giữa thầy va trỏ.