CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CỦA HỌC SINH TRONG MÔN TIẾNG VIỆT CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TIỂU HỌC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Nghiên cứu về phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên, sinh viên sư phạm Trên thế giới, vấn đề phát triển NL cho GV và SV sư phạm cũng đã được nhiều quốc gia quan tâm nghiên cứu. Ở Mĩ, tổ chức Carnegie (2002) đã thực hiện Dự án về giáo viên cho thế kỉ mới (Teacher for New Era Project – TNE) nghiên cứu về GV và phát triển NL nghề cho SV sư phạm.
Mục tiêu của dự án này là cải thiện chất lượng GV thông qua việc đổi mới chương trình đào tạo GV ở các trường dạy nghề sư phạm. Các kết quả nghiên cứu của dự án gồm 3 nội dung chính: (1) Kết quả học tập của SV sư phạm cần được ĐG bằng chính kết quả học tập của HS, (2) Trong đào tạo ở trường sư phạm, cần có sự liên kết của các GiV ở nhiều lĩnh vực khác nhau để nâng cao kiến thức cho các SV kể cả kiến thức chung và kiến thức chuyên ngành, (3) Trường ĐH cần có sự hỗ trợ thường xuyên về chuyên môn cho các GV mới ra trường (dẫn theo [24]). Ở Anh, Bộ quốc gia Giáo dục ban hành khung NL nghề nghiệp GV, trên cơ sở đó các trường ĐH đào tạo GV đã thiết kế bộ tiêu chuẩn NL nghề nghiệp GV của trường mình để sử dụng cho công tác đào tạo. Trường đại học Canterbury Christ Church xây dựng chuẩn đầu ra của SV sư phạm (Professional Standards – for Qualified Teacher Status).
Chuẩn này quy định SV sư phạm muốn được cấp chứng chỉ hành nghề GV phải có “những kiến thức nghề nghiệp và sự am hiểu về nghề nghiệp” (Professional knowledge and understanding) và “những kĩ năng nghề nghiệp” (Professional skills) (dẫn theo [24]). Ở Singapore, người ta quan tâm đến việc đổi mới chương trình đào tạo để phát triển NL nghề cho SV sư phạm. Ở Đức, phát triển NL là hướng cơ bản trong đào tạo nghề cho SV sư phạm. Bộ Văn hóa và Giáo dục Đức ban hành “Thỏa thuận về chuẩn đào tạo GV – Khoa học giáo dục” với 4 NL: NL dạy học, NL giáo dục, NL đánh giá, NL đổi mới.
Dựa trên 9 chuẩn này, các khối chuyên ngành tiếp tục nghiên cứu “Chuẩn đào tạo GV – Các khoa học chuyên ngành” với 2 nhóm NL: NL khoa học chuyên ngành và NL lí luận dạy học chuyên ngành. Theo đó, chuẩn NL dạy học của GV vừa mới tốt nghiệp bao gồm: NL xây dựng kế hoạch bài học, NL tổ chức các hoạt động học tập, NL thực hiện giờ lên lớp phù hợp với yêu cầu chuyên môn (dẫn theo [21]). Ở Australia, chuẩn nghề nghiệp của GV được xếp theo 4 cấp độ: Dẫn đầu (Lead), Xuất sắc (Highly Accomplished), Giỏi (Proficient), Tốt nghiệp (Graduate). Chuẩn nghề nghiệp cho SV sư phạm được xếp tương ứng với mức tốt nghiệp gồm 3 nhóm (kiến thức nghề nghiệp, thực hành nghề nghiệp, cam kết nghề nghiệp) với 7 tiêu chuẩn (dẫn theo [24]).
Ở Việt Nam, từ lâu các nhà khoa học đã quan tâm đến vấn đề phát triển các phẩm chất và kĩ năng nghề nghiệp cho SV sư phạm. Công trình nghiên cứu Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên NL thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề của Nguyễn Đức Trí (1996) là công trình lí luận đầu tiên về đào tạo nghề theo tiếp cận phát triển NL ở Việt Nam. Công trình bước đầu làm sáng tỏ mặt lí luận về phương thức đào tạo theo hướng phát triển NL, đồng thời chỉ ra các bước phát triển chương trình đào tạo theo tiếp cận NL và xây dựng tiêu chuẩn kĩ năng nghề quốc gia [70]. Trong đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu xây dựng mô hình đào tạo GV kĩ thuật ở trình độ ĐH cho các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tác giả Nguyễn Đức Trí (2000) đã đề xuất mô hình đào tạo GV kĩ thuật trong đó có đề cập đến triết lí, các đặc điểm cơ bản; ưu nhược điểm của phương thức đào tạo theo hướng phát triển NL; vận dụng phương thức đào tạo này vào đào tạo GV [71].
Cùng nghiên cứu về phát triển NL dạy học, tác giả Trịnh Xuân Thu đã phân tích tầm quan trọng của việc xây dựng chương trình đào tạo học phần Rèn luyện NVSP theo NL và xác nhận NL người học trong đào tạo [68]. Bộ Lao động - Thương binh xã hội đã ban hành Quy định chuẩn GV, GiV dạy nghề; Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Điều lệ Hội thi NVSP. Điều đó cũng khẳng định sự quan tâm của các cơ quan quản lí đến phát triển NL dạy học của đội ngũ GV. Công trình chuyên luận Vấn đề giáo viên- Những nghiên cứu lí luận và thực tiễn của Trần Bá Hoành (2006) đã đề cập đến công tác đào tạo GV nói chung và rèn luyện kĩ năng dạy học cho SV nói riêng trong các trường đào tạo sư phạm [33].
Trong những năm gần đây, trước yêu cầu của thực tiễn xã hội và việc tiệm cận với xu thế quốc tế về đổi mới giáo dục theo hướng phát triển NL người học thì vấn đề phát triển NL nghề của SV sư phạm đã tiếp tục được quan tâm trở lại một cách mạnh mẽ. Trần Bá Hoành và nhóm nghiên cứu (2008) đã thực hiện đề tài Chuẩn nghề nghiệp GV phổ thông 10 (THCS và THPT) và biên soạn nội dung cho Tài liệu Dự án phát triển GV Trung học phổ thông và Trung cấp chuyên nghiệp: Những căn cứ, nguyên tắc xây dựng và cấu trúc của chuẩn nghề nghiệp GV trung học. Đây là bộ chuẩn nghề nghiệp đầu tiên dành cho GV trung học ở nước ta được xây dựng theo hướng tiếp cận NL nghề. Ngày 22/10/2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư quy định chuẩn nghề nghiệp GV THCS [11] với 6 tiêu chuẩn, 25 tiêu chí chuẩn nghề nghiệp GV THCS và hướng dẫn cách ĐG, xếp loại GV.
Ngoại trừ tiêu chuẩn đầu tiên về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năm tiêu chuẩn còn lại đều là các NL nghề. Các tiêu chuẩn NL nghề này đã được hướng dẫn để áp dụng vào hoạt động đào tạo và bồi dưỡng GV cũng như công tác phát triển NL nghề cho SV sư phạm. Năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục nghiệm thu công trình Chuẩn đầu ra trình độ ĐH khối ngành sư phạm đào tạo GV trung học phổ thông. Theo đề tài này, các tiêu chuẩn về NL mà SV sư phạm cần đạt bao gồm: NL tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục, NL tự học, NL hoạt động chính trị xã hội, NL phát triển nghề nghiệp.
Trong Chuẩn đầu ra trình độ đại học khối ngành sư phạm đào tạo GV trung học phổ thông, những kiến thức, kĩ năng mà SV sư phạm cần học tập, rèn luyện để đạt được các NL tương ứng được trình bày một cách cụ thể. Trong đề tài cấp Bộ Phát triển NL nghề nghiệp cho SV các trường ĐH sư phạm (hệ sư phạm) tác giả Bùi Minh Đức (2017) đã xây dựng chuẩn đầu ra và khung NL nghề của GV trung học theo tiếp cận chuẩn đầu ra với 03 mức độ tiêu chuẩn, gắn với từng tiêu chí và hệ thống chỉ báo: mức cơ bản tương ứng với GV mới ra trường, mức giỏi tương ứng với GV đã thành thạo nghề và mức dẫn đầu tương ứng với GV xuất sắc. Tác giả rất coi trọng NL dạy học của GV, khẳng định mỗi GV phải là một “chuyên gia về môn học” với các NL cụ thể như: (1) NL vận dụng hệ thống kiến thức, kĩ năng của môn học, (2) NL sử dụng phương tiện, phương pháp đặc thù của môn học, (3) NL phát triển chương trình môn học, (4) NL nghiên cứu khoa học chuyên ngành, (5) NL vận dụng kiến thức liên môn [24]. Căn cứ vào hệ thống tiêu chuẩn với các mức độ này, có thể xây dựng các chương trình đào tạo bồi dưỡng GV.
Trên cơ sở đó, tác giả đã có những hướng dẫn cụ thể về việc biên soạn giáo trình và kế hoạch bài 11 học, về PPDH trong đào tạo và phát triển NL nghề cho SV sư phạm, về khâu KTĐG NL nghề của SV sư phạm. Tác giả cũng khẳng định, để phát triển NL nghề cho SV sư phạm, các trường đại học cần bồi dưỡng NL cho đội ngũ GiV đáp ứng yêu cầu; gắn kết hoạt động đào tạo ở trường sư phạm và trường phổ thông, trên cơ sở đề xuất mô hình liên kết giữa trường sư phạm và trường phổ thông trong đào tạo và phát triển NL nghề nghiệp cho SV sư phạm. Năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học với 5 tiêu chuẩn và 15 tiêu chí, bao gồm các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kĩ năng sư phạm và tiêu chuẩn xếp loại. Thông tư còn quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho từng đối tượng GV tiểu học hạng I, hạng II, hạng III.
Ngoại trừ tiêu chuẩn đầu tiên về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, bốn tiêu chuẩn còn lại đều là các NL nghề: Tiêu chuẩn 2: NL phát triển chuyên môn nghiệp vụ; Tiêu chuẩn 3: NL xây dựng môi trường giáo dục; Tiêu chuẩn 4: NL phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; Tiêu chuẩn 5: NL hoạt động chính trị xã hội. Tiêu chuẩn phát triển chuyên môn nghiệp vụ gồm 5 tiêu chí, trong đó tiêu chí kiểm tra, ĐG theo hướng phát triển phẩm chất, NL HS được quy định cụ thể với 3 mức: a) Mức đạt: Sử dụng các phương pháp KTĐG kết quả học tập và sự tiến bộ của HS; b) Mức khá: Chủ động cập nhật, vận dụng sáng tạo các hình thức, phương pháp, công cụ KTĐG theo hướng phát triển phẩm chất, NL HS; c) Mức tốt: Hướng dẫn, hỗ trợ đồng nghiệp kinh nghiệm triển khai hiệu quả việc KTĐG kết quả học tập và sự tiến bộ của HS. Các tiêu chuẩn NL nghề này đã được hướng dẫn để áp dụng vào hoạt động đào tạo và bồi dưỡng GV cũng như công tác phát triển NL nghề cho SV sư phạm [10]. Riêng nghiên cứu về phát triển NL nghề cho SV ngành GDTH cũng đã được quan tâm trong thời gian gần đây.