lời Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển mạng lưới phân phối dịch vụ tại các doanh nghiệp thông tin di động Chƣơng 2: Thực trạng phát triển mạng lưới phân phối dịch vụ tại công ty thông tin di động VMS Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu phát triển mạng lưới phân phối dịch vụ của công ty VMS 5 CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN MẠNG LƢỚI PHÂN PHỐI DỊCH VỤ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THÔNG TIN DI ĐỘNG 1. Khái quát dịch vụ viễn thông và dịch vụ thông tin di động 1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ viễn thông: 1. Khái niệm dịch vụ viễn thông Hàng hóa là kết quả có ích của hoạt động lao động sản xuất biểu hiện bằng của cải vật chất hoặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội.
Mỗi một hàng hoá dù ở dạng sản phẩm hay dịch vụ đều được định hướng để thoả mãn một nhu cầu cụ thể của con người. Mỗi loại hàng hoá cung cấp cho con người một giá trị sử dụng, mang lại cho con người một lợi ích. Mỗi loại hàng hóa mang những tính chất đặc trưng cơ bản, những tính chất này phân biệt nó với những loại giá trị sử dụng khác. Trao đổi tin tức là nhu cầu vốn có của đời sống xã hội.
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu trao đổi tin tức cũng phát triển theo, tăng thêm về số lượng và phong phú về hình thức. Ngành viễn thông ra đời và tồn tại là để đáp ứng nhu cầu trao đổi tin tức của xã hội. Ngành viễn thông là ngành cung cấp dịch vụ truyền đưa tin tức. Theo quy định tại Điều 37- Nghị định số 109/CP, dịch vụ viễn thông được hiểu là dịch vụ truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát, thu những ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh qua mạng lưới viễn thông do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp.
Đặc điểm dịch vụ viễn thông: Đặc điểm thứ nhất được xác định bởi đặc thù dịch vụ, mà dịch vụ này rất khác với các sản phẩm của các ngành sản xuất công nghiệp, nó không phải là một sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải hàng hoá cụ thể, mà là kết quả có ích cuối cùng của quá trình truyền đưa tin tức dưới dạng dịch vụ. Dịch vụ viễn thông có tính vô hình. 6 Đặc điểm phi vật chất của sản phẩm được quan niệm là sự vắng mặt của nguyên, nhiên vật liệu cơ bản mà được gọi là vật mang vật chất của sản phẩm. Điều này được thể hiện trong cơ cấu giá thành dịch vụ viễn thông, trong đó chi phí vật chất chiếm tỷ trọng không đáng kể, phần chi phí chủ yếu tập trung ở trả lương cho lao động.
Đặc điểm thứ hai liên quan chặt chẽ với đặc điểm thứ nhất, đó là sự không tách rời của quá trình tiêu dùng và sản xuất dịch vụ viễn thông. Hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay trong quá trình sản xuất. Ví dụ: trong đàm thoại điện thoại bắt đầu đăng ký đàm thoại là bắt đầu quá trình sản xuất, sau khi đàm thoại xong tức là sau khi tiêu dùng hiệu quả có ích của quá trình sản xuất thì quá trình sản xuất cũng kết thúc (quá trình sản xuất xảy ra đồng thời với quá trình tiêu dùng). Trong viễn thông, kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất không thể cất giữ được ở trong kho, không dự trữ được, không thể thu hồi sản phẩm cho vào quay vòng, tái sản xuất.
Từ đặc điểm này rút ra yêu cầu về chất lượng dịch vụ viễn thông phải có chất lượng cao nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp ngay đến người tiêu dùng. Đây là một sự khác biệt cơ bản với ngành khác, sản phẩm sau khi sản xuất ra phải qua khâu kiểm tra chất lượng rồi mới được đưa ra thị trường, người tiêu dùng có thể từ chối không mua sản phẩm có chất lượng kém hoặc chấp nhận mua với giá rẻ hơn. Hơn nữa, để sử dụng dịch vụ viễn thông người sử dụng phải có mặt ở những vị trí, địa điểm cung cấp dịch vụ của nhà khai thác hoặc nơi có thiết bị. Để thu hút nhu cầu, gợi mở nhu cầu, thoả mãn ngày càng đầy đủ các nhu cầu ngày càng cao của khách hàng về truyền đưa tin tức, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cần phải phát triển mạng lưới rộng khắp, phải rút ngắn triệt để khoảng cách giữa thiết bị viễn thông đến khách hàng, nâng cao mật độ phục vụ bưu điện và các khách hàng.
Đặc điểm thứ ba xuất phát từ nhu cầu truyền đưa tin tức rất đa dạng, nó xuất hiện không đồng đều về không gian và thời gian (theo giờ, theo ngày, tuần, tháng, năm). Thông thường, nhu cầu truyền đưa tin tức phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt 7 của xã hội, vào những giờ ban ngày, giờ làm việc của các cơ quan, doanh nghiệp, vào các kỳ lễ Tết thì lượng nhu cầu rất lớn. Trong điều kiện yêu cầu phục vụ không đồng đều, để thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phải dự trữ đáng kể năng lực sản xuất và lực lượng lao động. Để đảm bảo lưu thoát hết mọi nhu cầu về truyền đưa tin tức cần phải có một lượng dự trữ đáng kể về các phương tiện, thiết bị thông tin, lao động.
Chính sự không đồng đều của tải trọng đã làm phức tạp thêm rất nhiều cho việc tổ chức quá trình sản xuất, tổ chức lao động trong các doanh nghiệp viễn thông. Đặc điểm thứ tư, đó là sự khác biệt so với ngành sản xuất công nghiệp, nơi mà đối tượng sản xuất chịu sự thay đổi vật chất (về mặt vật lý, hoá học.), còn trong sản xuất viễn thông, thông tin là đối tượng lao động chỉ chịu tác động dời chỗ trong không gian. Thậm chí, nếu thông tin trong quá trình truyền tải nhờ các thiết bị viễn thông được biến đổi thành các tín hiệu thông tin điện, thì ở nơi nhận tín hiệu phải được khôi phục trở lại trạng thái ban đầu của nó. Mọi sự thay đổi thông tin, đều có nghĩa là sự làm méo mó, mất đi giá trị sử dụng và dẫn đến tổn thất của khách hàng.
Trong viễn thông đặc điểm này còn bao hàm độ tin cậy truyền đưa thông tin, tính chính xác khi phục hồi và bảo đảm (trong quá trình truyền đưa) tất cả các tham số chất lượng, những đặc trưng cho tính chất sử dụng của thông tin. Như vậy, bên cạnh dòng chuyển động của dịch vụ từ nhà cung cấp tới các thành viên, trung gian kênh, tới khách hàng luôn tồn tại một yếu tố "vô hình". Đó chính là mối liên kết chặt chẽ, không tách rời giữa nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng thể hiện qua chất lượng dịch vụ - giá trị đích thực của dịch vụ điện thoại di động. Đặc điểm thứ năm là quá trình truyền đưa tin tức luôn mang tính hai chiều giữa người gửi và người nhận thông tin.
Nhu cầu truyền đưa tin tức có thể phát sinh ở mọi điểm dân cư, điều đó đòi hỏi phải hình thành một mạng lưới cung cấp dịch vụ có độ tin cậy, rộng khắp. 8 Xét các đặc điểm trên của ngành viễn thông ta nên nhấn mạnh đặc tính có tính chất hạ tầng cơ sở của nó. Từ hạ tầng cơ sở có thể hiểu là tập hợp các khâu của nền sản xuất xã hội, mà kết quả cuối cùng hoạt động của chúng không phải là tạo ra sản phẩm vật chất, mà là phục vụ sản xuất (tức là hạ tầng cơ sở sản xuất), phục vụ nhân dân và các lĩnh vực phi sản xuất (tức là hạ tầng cơ sở xã hội). Hạ tầng cơ sở bao gồm các ngành tạo ra điều kiện chung cho tất cả các lĩnh vực hoạt động, thiếu nó quá trình sản xuất không thực hiện được, hoặc có thể chỉ thực hiện một cách không hoàn chỉnh.
Khái niệm và đặc điểm dịch vụ thông tin di động: 1.1 Khái niệm dịch vụ thông tin di động: Dịch vụ thông tin di động là một loại hình dịch vụ viễn thông cho phép người sử dụng có thể thực hiện quá trình đàm thoại, trao đổi thông tin bằng thiết bị đầu cuối đặc biệt (bao gồm 01 điện thoại di động và simcard). Qua quá trình giải mã tín hiệu điện từ của hệ thống thông tin vô tuyến, vào mọi thời điểm thuộc phạm vi vùng phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ, người sử dụng có thể chủ động khai thác, sử dụng dịch vụ. Hiện nay, 95% các nhà khai thác dịch vụ điện thoại di động trên toàn cầu sử dụng công nghệ GSM. * Hệ thống thông tin di động GSM: Đầu những năm 90 của thế kỷ này, ngành viễn thông thế giới đã chính thức đưa ra thị trường một sản phẩm viễn thông mới nhất: Điện thoại di động kỹ thuật số (Digital Cellular) được hoạt động trên hệ thống thông tin di động toàn cầu kỹ thuật GSM (Global System For Mobile Communications) và điện thoại di động kỹ thuật số này đã khắc phục được những nhược điểm của các thế hệ trước.
Điện thoại di động kỹ thuật số GSM ngay từ khi ra đời đã phát triển rất nhanh chóng tại Châu Âu và Châu Á và cho đến nay việc chiếc điện thoại di động vừa là phương tiện liên lạc vừa là công cụ truy cập Internet, xem video, nghe nhạc, chụp ảnh kỹ thuật số… làm cho dịch vụ thông tin di động càng trở nên phong phú và đa dạng hơn. 9 Trước khi có GSM, hầu hết các nước đều đã có một mạng điện thoại di động với những tiêu chuẩn về dịch vụ, chất lượng và vùng phủ sóng khác nhau. Những hệ thống điện thoại di động này mang tính độc lập cao, không thể làm việc cùng nhau. Ví dụ: Một thuê bao di động ở Thái Lan không thể sử dụng được tại Singapore mà khách hàng phải mua hoặc thuê một máy điện thoại tại nước họ đến.
Cần phải ghi nhận rằng, sự phát triển của một tiêu chuẩn chung về thông tin di động trên toàn thế giới sẽ có một tác động mạnh mẽ đến công nghệ về thiết bị thông tin di động. Với một tiêu chuẩn chung thì giá cả các thiết bị gồm cả mạng lưới và máy cầm tay sẽ giảm đi rất nhiều, kéo theo giá cả dịch vụ giảm. Như vậy GSM được phát triển cho phép khách hàng sử dụng điện thoại của họ ở nhiều nước khác nhau. Chính vì thế GSM được cân nhắc để trở thành một tiêu chuẩn viễn thông quốc tế.