Tổng quan nghiên cứu

Phát triển kinh tế nông thôn gắn liền với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một trong những nhiệm vụ chiến lược hàng đầu tại Việt Nam. Tại tỉnh Vĩnh Phúc, giai đoạn 2004 - 2008 ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân ấn tượng đạt 18,6%, đưa thu nhập bình quân đầu người từ 6,97 triệu đồng năm 2004 lên 21,84 triệu đồng năm 2008. Tuy nhiên, khu vực nông nghiệp nông thôn vẫn đối mặt với áp lực dư thừa lao động khi thời gian nông nhàn chưa được khai thác chiếm khoảng 18%. Toàn tỉnh hiện có 39 làng nghề, trong đó có 8 làng nghề truyền thống nổi tiếng như gốm Hương Canh, mộc Bích Chu, đan lát Triệu Đề hay đá Hải Lựu. Dù sở hữu tiềm năng to lớn, phần lớn các cơ sở sản xuất tại đây vẫn hoạt động ở quy mô manh mún, thiếu vốn, công nghệ lạc hậu và đối mặt với nguy cơ mai một.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị tập trung làm rõ thực trạng hoạt động và vai trò của hệ thống làng nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2000 đến năm 2010, đồng thời xác lập định hướng phát triển bền vững đến năm 2020. Nghiên cứu giải quyết bài toán chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tạo việc làm tại chỗ, nâng cao mức sống nhân dân và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10,4%. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua hệ thống luận cứ xác đáng, cung cấp cơ sở hoạch định chính sách khuyến công, quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề và phát triển kinh tế nông thôn toàn diện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý luận Kinh tế chính trị Mác - Lênin về phân công lao động xã hội và mối quan hệ biện chứng giữa thủ công nghiệp với nền đại công nghiệp cơ khí. Theo quan điểm kinh tế học phát triển, làng nghề đóng vai trò là hình thức tổ chức kinh tế trung gian chuyển tiếp từ sản xuất tiểu nông tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hóa quy mô lớn.

Khung lý thuyết của đề tài tích hợp ba khái niệm nền tảng:

  • Khái niệm làng nghề: Đơn vị kinh tế - xã hội ở nông thôn có hoạt động tiểu thủ công nghiệp tách rời nông nghiệp, đạt tỷ lệ trên 35% số hộ tham gia và thu nhập từ nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản xuất của làng.
  • Khái niệm làng nghề truyền thống: Không gian văn hóa - kinh tế lưu giữ bí quyết kỹ thuật tinh xảo lâu đời, có sự kế thừa qua nhiều thế hệ như mộc Thanh Lãng hay gốm Hương Canh.
  • Cơ cấu kinh tế nông thôn: Hệ thống hữu cơ giữa nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất địa phương.

Mô hình nghiên cứu phân tích tác động tương hỗ giữa các nhân tố nguồn lực (vốn, lao động kỹ thuật, công nghệ sản xuất), thể chế chính sách của Nhà nước và quy mô thị trường tiêu thụ đối với hiệu quả kinh tế - xã hội của làng nghề.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 - 2009, các báo cáo chuyên đề của Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng hệ thống văn bản pháp quy của Ủy ban nhân dân tỉnh. Nguồn dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua khảo sát thực địa tại 39 làng nghề trên địa bàn 8 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 150 hộ sản xuất cá thể, tổ hợp tác và doanh nghiệp tư nhân, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đại diện cho các nhóm ngành: chế biến nông sản, mộc mỹ nghệ, gốm sành sứ và mây tre đan. Phương pháp phân tích chủ đạo là phân tích - tổng hợp, thống kê so sánh kinh tế và trừu tượng hóa khoa học. Việc lựa chọn các phương pháp này nhằm bóc tách bản chất của các quan hệ sản xuất nông thôn, đánh giá chuẩn xác hiệu quả sử dụng vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng mà làng nghề đóng góp cho nền kinh tế địa phương trong suốt trục thời gian 10 năm nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện trọng tâm về thực trạng phát triển làng nghề tại Vĩnh Phúc:

Thứ nhất, làng nghề đóng vai trò trụ cột trong giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động nông nhàn. Chi phí lao động sống chiếm từ 60% đến 65% giá trị sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, giúp tận dụng hiệu quả 18% quỹ thời gian rỗi của người dân. Điển hình như nghề mây tre đan tại xã Cao Phong đã thu hút hàng trăm lao động địa phương với mức thu nhập ổn định từ 800.000 đến 1.500.000 đồng/người/tháng.

Thứ hai, làng nghề góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và giảm nghèo bền vững. Giai đoạn 2004 - 2008, kinh tế Vĩnh Phúc tăng trưởng bình quân 18,6%/năm; tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 18,4% năm 2005 xuống còn 10,4% năm 2008. Thu nhập từ nghề phụ giúp tỷ lệ hộ khá và giàu tại các xã có nghề đạt trên 60%, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng hộ đói giáp hạt.

Thứ ba, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán và thiếu vốn đầu tư chiều sâu. Trên 85% cơ sở sản xuất trong các làng nghề duy trì theo mô hình kinh tế hộ gia đình, vận hành bằng vốn tự có và vốn vay mượn từ người thân. Năng lực tiếp cận tín dụng ngân hàng còn thấp do thiếu tài sản thế chấp giá trị cao.

Thứ tư, công nghệ sản xuất lạc hậu và hạ tầng chưa đồng bộ dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường. Dù năm 2008 tỉnh đã dành 937 tỷ đồng (chiếm 45% tổng chi ngân sách) cho đầu tư hạ tầng giao thông, mặt bằng sản xuất tại các làng nghề vẫn xen lẫn trong khu dân cư, gây ô nhiễm khói bụi, tiếng ồn và chất thải rắn chưa qua xử lý.

Thảo luận kết quả

Thực trạng sản xuất manh mún bắt nguồn từ phương thức truyền nghề nội tộc khép kín, thiếu vắng các doanh nghiệp quy mô lớn đóng vai trò hạt nhân kết nối chuỗi cung ứng. Năng lực tiếp thị và xúc tiến thương mại của các hộ sản xuất còn hạn chế, chủ yếu bán sản phẩm qua thương lái trung gian, dẫn đến giá trị gia tăng thực tế bị suy giảm.

So sánh với các địa phương lân cận, Vĩnh Phúc còn nhiều dư địa phát triển. Tỉnh Bắc Ninh đã quy hoạch thành công 14 cụm công nghiệp làng nghề với diện tích 144,6 ha, áp dụng chính sách miễn tiền thuê đất 10 năm, đưa giá trị sản xuất làng nghề đạt hơn 760 tỷ đồng, chiếm 28% tổng giá trị công nghiệp toàn tỉnh. Tương tự, tỉnh Hà Tây trước đây đã cấp bằng công nhận cho 240 làng nghề, kết hợp du lịch làng nghề đón trên 5.000 lượt khách quốc tế mỗi năm tại làng lụa Vạn Phúc và mây tre đan Phú Nghĩa.

Trong quá trình trình bày báo cáo, các dữ liệu về tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự thay đổi thu nhập bình quân đầu người và biến động cơ cấu hộ nghèo nên được trực quan hóa bằng biểu đồ cột tăng trưởng kết hợp đường xu hướng, cùng bảng thống kê đối sánh năng suất lao động giữa các nhóm làng nghề để tăng tính thuyết phục khoa học.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tạo động lực bứt phá cho kinh tế làng nghề Vĩnh Phúc đến năm 2020, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch không gian cụm công nghiệp làng nghề tập trung. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc cùng Sở Xây dựng và Sở Tài nguyên và Môi trường cần đẩy nhanh tiến độ di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư, hoàn thành xây dựng từ 5 đến 8 cụm công nghiệp làng nghề chuyên ngành với diện tích bình quân 10 - 15 ha/cụm trong giai đoạn 2012 - 2018, bảo đảm 100% cụm có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn.

Thứ hai, mở rộng cơ chế tiếp cận tín dụng và hỗ trợ vốn đầu tư đổi mới công nghệ. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp Sở Tài chính thiết lập quỹ bảo lãnh tín dụng tiểu thủ công nghiệp, nâng tỷ lệ hộ sản xuất tiếp cận vốn vay trung và dài hạn lên trên 60% vào năm 2015, ưu tiên hỗ trợ lãi suất 3% - 5%/năm cho các dự án đổi mới lò nung gốm, máy cưa xẻ gỗ tự động và máy dệt bán tự động.

Thứ ba, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu gắn với phát triển du lịch sinh thái làng nghề. Sở Công Thương và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai chương trình định vị thương hiệu cho gốm Hương Canh, mộc Bích Chu và đá Hải Lựu; tích hợp các tuyến du lịch tham quan trải nghiệm, phấn đấu nâng doanh thu thương mại - dịch vụ làng nghề tăng trưởng bình quân 15%/năm giai đoạn 2015 - 2020.

Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chuẩn hóa quy trình quản trị sản xuất. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp Trung tâm Khuyến công tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo nghề từ 32,6% năm 2008 lên 50% năm 2015 và đạt 65% vào năm 2020, khuyến khích chuyển đổi mô hình hộ cá thể sang hợp tác xã kiểu mới và công ty trách nhiệm hữu hạn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước như Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trên địa bàn Vĩnh Phúc. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ xây dựng đề án khuyến công, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và quy hoạch mạng lưới cụm công nghiệp làng nghề đến năm 2020.

Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế. Luận văn cung cấp khung phân tích lý luận mẫu mực về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn, phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát và các bài học so sánh liên tỉnh tại vùng đồng bằng sông Hồng.

Nhóm thứ ba là các chủ cơ sở sản xuất, chủ nhiệm hợp tác xã và doanh nghiệp vừa và nhỏ tại làng nghề. Người đọc nắm bắt được xu hướng vận động của thị trường thủ công mỹ nghệ, từ đó chủ động chuyển đổi mô hình quản trị, liên kết đầu ra và áp dụng công nghệ mới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.

Nhóm thứ tư là các tổ chức tín dụng nông thôn và ngân hàng thương mại. Nghiên cứu cung cấp góc nhìn toàn diện về chu kỳ sản xuất, nhu cầu vốn lưu động và mức độ sinh lời của từng ngành nghề, giúp thiết kế các gói tín dụng phù hợp với đặc thù kinh tế hộ nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Làng nghề đóng vai trò cụ thể như thế nào đối với việc làm và giảm nghèo tại Vĩnh Phúc? Làng nghề trực tiếp giải quyết 18% quỹ thời gian lao động nông nhàn, huy động hiệu quả lao động phụ nữ và người cao tuổi. Thu nhập từ nghề phụ giúp GDP bình quân đầu người tăng từ 6,97 triệu đồng năm 2004 lên 21,84 triệu đồng năm 2008, giảm tỷ lệ nghèo toàn tỉnh xuống còn 10,4%.

Toàn tỉnh Vĩnh Phúc có bao nhiêu làng nghề và tập trung vào những ngành nghề chủ yếu nào? Toàn tỉnh có 39 làng nghề với 8 làng nghề truyền thống lâu đời. Các làng nghề phân bố theo 4 nhóm chính: sản xuất gốm sứ sành (Hương Canh), chế tác đồ mộc mỹ nghệ (Bích Chu, Thanh Lãng), đan lát mây tre (Triệu Đề, Cao Phong) và khai thác, chế tác đá xây dựng (Hải Lựu).

Rào cản lớn nhất kìm hãm sự bứt phá của các làng nghề tại địa phương là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là quy mô sản xuất nhỏ lẻ dạng hộ gia đình, với hơn 85% cơ sở thiếu vốn đầu tư máy móc hiện đại. Thêm vào đó, mặt bằng sản xuất chật hẹp trong khu dân cư gây ô nhiễm môi trường và hạn chế khả năng nhận các đơn hàng xuất khẩu lớn.

Vĩnh Phúc có thể học tập kinh nghiệm gì từ các tỉnh phát triển làng nghề lân cận? Tỉnh có thể vận dụng kinh nghiệm của Bắc Ninh trong việc lập 14 cụm công nghiệp đa nghề, ưu đãi miễn tiền thuê đất 10 năm, đồng thời áp dụng mô hình kết hợp làng nghề truyền thống với du lịch trải nghiệm lữ hành như cách Hà Tây đã triển khai tại làng lụa Vạn Phúc.

Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực làng nghề Vĩnh Phúc đến năm 2020 đặt ra những chỉ tiêu nào? Đề tài định hướng nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tại khu vực nông thôn từ mức 32,6% năm 2008 lên 50% vào năm 2015 và đạt 65% vào năm 2020, kết hợp truyền dạy bí quyết của nghệ nhân với đào tạo kỹ năng quản trị và thiết kế mẫu mã hiện đại.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Vũ Thị Hồng Thắm đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận Kinh tế chính trị về vai trò động lực của làng nghề trong phân công lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa.
  • Phân tích bức tranh thực trạng 39 làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế địa phương đạt bình quân 18,6% giai đoạn 2004 - 2008.
  • Nhận diện chính xác 4 điểm nghẽn về vốn đầu tư, công nghệ thủ công, hạ tầng mặt bằng và bài toán ô nhiễm môi trường sinh thái nông thôn.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm phát triển cụm công nghiệp và du lịch làng nghề từ Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Tây để ứng dụng linh hoạt vào Vĩnh Phúc.
  • Xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2020 với lộ trình nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 65%, gắn kết bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống với tăng trưởng kinh tế bền vững.

Nghiên cứu mở ra hướng đi khoa học cho công tác quản lý tiểu thủ công nghiệp địa phương. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình để ứng dụng vào thực tiễn quy hoạch phát triển kinh tế nông thôn hiện đại.