phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về làng nghề trong phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn. Chƣơng 2: Thực trạng làng nghề trong phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2000 đến nay. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển làng nghề ở Vĩnh Phúc. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LÀNG NGHỀ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN 1.
Làng nghề, đặc điểm và phân loại làng nghề 1.1 Đặc điểm của làng nghề 1. Khái niệm về làng nghề Làng nghề là phạm trù ghép của hai từ “làng” và “nghề”. Làng là một phạm trù dùng để chỉ một khối dân cư ở nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt, và là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến. Làng ở Việt Nam đã xuất hiện từ thời Hùng Vương, nó được hình thành trên cơ sở những công xã nông thôn, trong đó mỗi công xã gồm một số gia đình, có một tinh thần cộng đồng, cộng cảm, sống quây quần trong một khu vực địa lý nhất định.
Sự tập trung đó là do nghề trồng lúa nước (đã có ở nước ta vào khoảng thế kỷ thứ VII TrCN) phải thường xuyên chống thiên tai mà công việc này một gia đình không thể đảm đương được, cần có sự liên kết của cộng đồng, gắn bó với nhau và cùng chung sống chết. Lúc đầu, nguồn sống cơ bản của người dân trong các làng là sản phẩm nông nghiệp. Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất làm cho sản xuất nông nghiệp có của dư thừa, làm ra đời kinh tế hàng hoá. Dần dần trong làng có những người làm nghề buôn bán, rồi có những người chế tác công cụ lao động, sản xuất đồ mộc, đan lát đồ dùng, nuôi tằm, kéo tơ, dệt vải.
tức là chuyển sang sản xuất thủ nghiệp. Trong thời kỳ đầu, sản xuất công nghiệp chỉ ở quy mô gia đình và bị phụ thuộc kinh tế tự nhiên giống như cách mô tả của V.Lênin: "ở đây, nghề thủ công với nông nghiệp chỉ là một mà thôi" [34, tr. Theo đà phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội và kinh tế hàng hoá, những người sản làm nghề thủ công vốn coi công việc của mình là một nghề phụ trong nghề nông chuyển sang thành một nghề 6 độc lập. Tuy họ đã rời bỏ sản xuất nông nghiệp, nhưng vẫn gắn chặt với làng quê, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sống bằng nghề thủ công nghiệp.
Bên cạnh những người này, trong làng vẫn có những người làm nông nghiệp kiêm thợ thủ công. Trong quá trình phát triển, số người trong làng chuyển hẳn sang sản xuất các mặt hàng thủ công dần tăng lên, có đội ngũ thợ, có quy trình công nghệ, quy mô sản xuất hàng thủ công tăng lên đến một mức độ nhất định làm cho làng thuần nông chuyển biến thành các làng nghề. Tuy đã được hình thành từ lâu, nhưng đến nay, ở nước ta vẫn tồn tại những quan niệm khác nhau về làng nghề. Chẳng hạn, theo giáo sư Trần Quốc Vượng, "Làng nghề là làng tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một số nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp.
có phường, có ông trùm, có phó cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định "sinh ư nghệ, tử ư nghệ", "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh", sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công" [44, tr. Đây là quan niệm tuy đúng với làng nghề truyền thống, nhưng lại không thích hợp với các làng nghề nói chung và càng không phải là làng nghệ mới được đi vào hoạt động. Nếu cho rằng phát triển làng nghề phải có nghề cổ truyển nổi trội, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp thì ngày nay rất khó có được một loại làng nghề như vậy.
Một quan niệm khác cho rằng, "Làng nghề là những làng đã có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm" [23, tr. Còn trong Dự thảo Nghị định của Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đệ trình tháng 5/2005, thì "Làng nghề là tôn, ấp, bản có trên 35% số hộ hoặc lao động 7 tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và thu nhập từ ngành nghề nông thôn chiểm trên 50% tổng thu nhập của làng". Các định nghĩa trên đã khắc phục được nhược điểm của quan niệm thứ nhất, quan tâm đến phải có tỷ lệ người làm nghề và thu nhập từ ngành nghề, nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề và việc cố định những tiêu chí trong khái niệm sẽ làm cho các nhà hoạch định chính sách khó xử lý khi chế độ ưu đãi đối với làng nghề đã thay đổi thì phải chăng khái niệm cũng thay đổi. Quan niệm thứ tư của Theo TS.
Dương Bá Phượng thì “Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập”. Quan niệm này đã nêu lên được hai yếu tố cơ bản cấu thành của làng nghề là làng và nghề, nêu lên được vấn đề nghề trong làng tách ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập nên phù hợp với điều kiện mới hơn, tránh được hạn chế của quan niệm thứ hai, song vẫn mắc phải hạn chế của quan niệm thứ nhất. Có nhiều chỉ tiêu phản ánh quy mô các hoạt động thủ công nghiệp, trong đó có hai chỉ tiêu cơ bản là giá trị sản xuất và lao động làm nghề thủ công nghiệp. Song, do nghề gắn với làng vốn có điểm xuất phát là nông nghiệp, nên phải so sánh tỷ lệ lao động (hay hộ) và thu nhập của thủ công nghiệp với tổng số lao động và tổng thu nhập của làng.
Nghĩa là, tỷ lệ lao động làm nghề và tỷ lệ thu nhập do nghề mang lại so với lao động và thu nhập của làng là tiêu thức xác định làng đó có phải là làng nghề hay không. Thuật ngữ LÀNG NGHỀ được tạo thành từ hai chủ thể “làng” và “nghề”. Nghề được đề cập ở đây là nghề TTCN được tiến hành trong phạm vi làng và gắn với làng. Có thể hiểu một cách đơn giản làng nghề là làng có hoạt động TTCN.
Tuy vậy, không phải quy mô của nghề ở bất cứ mức độ nào thì làng cũng được gọi là làng nghề. Làng được gọi là làng nghề khi các hoạt động TTCN đủ lớn đến một mức độ nào đó và mang tính ổ định. Như vậy, khái niệm làng nghề phải thể hiện cả về định tính và định lượng. Định tính 8 của làng nghề thể hiện sự khác biệt của làng nghề so với làng thuần nông (hoặc có ngành nghề phụ quy mô nhỏ) hoặc với phố nghề ở thành thị.
Định lượng của khái niệm làng nghề là chỉ ra làng nghề đạt đến quy mô nào và mang tính ổn định ra sao. Vì có điểm xuất phát là làng gắn với nông nghiệp nên quy mô TTCN của làng phát triển đến mức độ nào đó mới được gọi là làng nghề vì ở trong làng nên việc định lượng, xác định quy mô nghề vừa phải xem xét chính bản thân hoạt động TTCN, vừa phải đặt trong quy mô làng về số hộ, số lao động, thu nhập từ hoạt động kinh tế bởi vì đặc trưng đầu tiên của làng Việt Nam là gắn với số hộ, số lao động và thu nhập từ nông nghiệp. Có nhiều chỉ tiêu phản ánh quy mô các hoạt động TTCN, trong đó hai chỉ tiêu cơ bản là giá trị sản xuất và lao động làm nghề TTCN. Tuy vậy, do nghề gắn liền với làng vốn có điểm xuất phát là nông nghiệp nên phải so sánh tỷ lệ lao động (hay hộ) và thu nhập của TTCN với tổng số lao động và tổng thu nhập của làng.
Như vậy, tỉ lệ lao động làm nghề và tỉ lệ thu nhập do nghề đưa lại so với lao động và thu nhập của làng là bao nhiêu thì được gọi là làng nghề. Vấn đề đặt ra ở đây cũng tương tự như trong kinh tế học thường gặp như khái niệm trang trại và tiêu chí trang trại, khái niệm hộ nghèo và chuẩn phân loại hộ nghèo,… Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những điểm hợp lý của các quan niệm nêu trên và nghiên cứu của bản thân, theo tác giả luận văn thì làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỉ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như về mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng. Tên gọi của làng nghề gắn liền với tên gọi của các nghề thủ công như nghề gốm sứ, đúc đồng, ươm tơ, dệt vải, dệt tơ lụa. Trước đây, làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp.
Ngày nay, do sự phát triển mạnh của ngành kinh tế dịch vụ, nên ở các tỉnh còn có các nghề buôn bán dịch vụ trong nông thôn cũng được gọi là làng nghề. Trong một làng nghề có thể chỉ có một nghề, 9 nhưng cũng có thể có nhiều nghề. Điều này là tuỳ theo số lượng ngành nghề thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ ưu thế có trong làng. Đặc điểm của làng nghề Khác với làng thuần nông và phố nghề, làng nghề được ra đời và phát triển ở nông thôn, có mối quan hệ chặt chẽ với nông nghiệp, lao động mang tính chất thủ công và chủ yếu là lao động tại chỗ; vốn ít, kỹ thuật và công nghệ lạc hậu và mang tính chất thủ công; hộ gia đình là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu, đa số sản phẩm được sản xuất có tính chất đơn chiếc và nhiều sản phẩm mang bản sắc văn hoá của vùng, của dân tộc.
Quá trình phát triển kinh tế thị trường, CNH và HĐH nông nghiệp, nông thôn làm cho các quan hệ kinh tế ở làng xã thay đổi, các làng nghề cũng biến đổi theo. Dưới đây là những đặc điểm chủ yếu của làng nghề. - Làng nghề có quan hệ gắn bó với nông nghiệp, nhưng ít phụ thuộc vào nông nghiệp. Ở nước ta trước đây cũng như hiện nay, hầu hết các nghề đều lấy làng làm địa điểm hoạt động.