Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế du lịch Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì - Hà Nội Chương 3. Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch huyện Ba Vì 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 1. Kinh tế du lịch 1. Khái niệm và đặc điểm 1.
Khái niệm * Du lịch Trong từ điển Oxford của Anh, du lịch có nghĩa là đi xa và du lãm. Nghĩa rằng đây là một hoạt động rời nhà đi xa rồi trở về và trong thời gian ấy thì tham quan du lãm ở một hoặc vài địa phương. Với ý nghĩa đó, du lịch đã xuất hiện vào cuối xã hội nguyên thuỷ, đầu xã hội chiếm hữu nô lệ.Vào thời kì này, do sự phân công lao động xã hội: phân chia giữa trồng trọt và chăn nuôi: giữa nông nghiệp, thương nghiệp và ngành thủ công làm cho kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, thị trường ngày càng được mở rộng, nhu cầu giao lưu kinh tế xã hội giữa các thành viên trong xã hội, giữa các vùng, miền trong một quốc gia tăng mạnh, kéo theo đó là nhu cầu du lịch tăng lên. Tuy nhiên, hoạt động du lịch thời kì này còn chưa rõ ràng, mục đích chính của việc đi đây đi đó của con người là trao đổi hàng hoá, việc tham quan du lịch chỉ là sự kết hợp ngẫu nhiên, chủ yếu mang tính tự phát, tự phục vụ là chính.
Du lịch chưa trở thành một ngành kinh tế đặc thù của xã hội. Ở phương Tây, vào những năm cuối của thế kỉ XIV đã có nhiều quan niệm khác nhau về du lịch. Có quan niệm cho rằng du lịch là một ngành công nghiệp, đó là ngành “công nghiệp mẹ”, một ngành công nghiệp then chốt. Sự phát triển về du lịch có tác động to lớn tới tất cả các ngành kinh tế của một quốc gia.
Nhưng cũng có quan niệm cho rằng du lịch là một hoạt động kinh tế nhằm phục vụ khách nước ngoài, là một ngành kinh doanh, kinh doanh các danh lam của đất nước, đối tượng tham quan là khách nước ngoài. 9 Đến đầu thế kỉ XX, du lịch vẫn còn là hoạt động dành riêng cho những người khá giả, họ đi du lịch là để hưởng ngoạn, giải trí. Và sau đó hoạt động này ngày càng thu hút được sự tham gia của hầu hết các tầng lớp xã hội khác nhau. Ngày nay du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu, gắn liền với cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người.
Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) thì năm 2000 số lượng khách du lịch toàn cầu là 698 triệu lượt người với doanh thu đạt được là 467 tỷ USD; năm 2002 lượng khách là 716,6 triệu lượt với doanh thu 474 tỷ USD; dự tính đến năm 2010 sẽ có khoảng 1006 triệu lượt khách du lịch với doanh thu khoảng 900 tỷ USD.[8, tr 50] Mặc dù vậy, hiện nay khi đề cập đến du lịch, không ít người lầm tưởng rằng: du lịch là những kì nghỉ hè với những bãi biển đầy người, các sân bay hay các đoàn xe du lịch vòng quanh các phố phường… Do đó, việc xây dựng quan niệm và hiểu biết đúng đắn về ngành kinh tế du lịch có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của du lịch nhằm đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của đời sống con người. Theo Hội liên hiệp các chuyên gia quốc tế về du lịch thì: “Du lịch là sự tổng hoà các hiện tượng và quan hệ do việc lữ hành và tạm thời cư trú của những người không định cư dẫn tới. Số người này không định cư lâu dài, và lại cũng không làm bất kì hoạt động nào để kiếm tiền”.[16,tr 241] Trong tuyên ngôn Manila (1980) của tổ chức du lịch Quốc tế thì du lịch được xem là: “Việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích thực hiện sự phát triển các nhân về phương tiện kinh tế xã hội, văn hoá và tinh thần cùng với việc đẩy mạnh về hiểu biết và hợp tác giữa mọi người”. Khái niệm này đã nhấn mạnh mục đích hoà bình của việc du lịch, đồng thời cũng bao quát việc du lịch để vui chơi, tiêu khiển với việc du lịch vì công 10 việc.
Tuy nhiên khái niệm trên vẫn chưa phản ánh được đặc điểm tổng hợp khách quan của hoạt động du lịch, của người du lịch. Kế thừa các quan điểm trên các tác giả Trung Quốc trên cơ sở phân tích bản chất và thuộc tính của việc du lịch cũng đưa ra khái niệm khá toàn diện về du lịch:“Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hoà tất cả các quan hệ và hiện tượng do lữ hành để thoả mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hoá nhưng lưu động chứ không định cư mà tạm thời cư trú của tất cả mọi người dẫn tới”. Trường Đại học kinh tế Praha (Cộng hoà Séc) đưa ra định nghĩa về du lịch như sau:“Du lịch là tập hợp các hoạt động kĩ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và viếng thăm có tổ chức thường kì”.[10, tr17] Định nghĩa của trường tổng hợp kinh tế thành phố Varna, Bulgarie như sau:“Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội được lặp đi lặp lại đều đặn - chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ, hàng hoá của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập - đó là các tổ chức, các xí nghiệp với cơ sở vật chất kĩ thuật chuyên môn nhằm đảm bảo sự đi lại, cư trú ăn uống nghỉ ngơi với mục đích thoả mãn các nhu cầu cá thể về vật chất và tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của họ để nghỉ ngơi, chữa bệnh, giải trí (thuộc các nhu cầu về văn hoá, chính trị, kinh tế…) mà không có mục đích lao động kiếm lời”. [10, tr17-18] Hai định nghĩa trên đã xem xét kĩ hiện tượng du lịch như là một phạm trù kinh tế với đầy đủ tính đặc trưng và vai trò của một bộ máy kinh tế, kĩ thuật điều hành.
11 Khác với các định nghĩa trên, định nghĩa về du lịch của Michael Coltman lại rất ngắn gọn như sau:“Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du lịch, bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, dân cư sở tại và chính quyền nơi tiếp đón du lịch”.[10, tr 18] Mối quan hệ đó có thể được thể hiện bằng sơ đồ sau: Du khách Nhà cung ứng dịch vụ Dân cư Chính quyền địa phương nơi đón sở tại khách du lịch Hình 1. Mối quan hệ giữa các nhân tố trong hoạt động du lịch [6,tr 28] Tháng 6 năm 1991 tại Otawa, Canađa, Hội Nghị Quốc Tế về thống kê du lịch đã đưa ra định nghĩa sau: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian đã được các tổ chức du lịch quy điịnh trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”. [10, tr19] Định nghĩa trên đã quy định rõ các điểm sau: - Ngoài “môi trường thường xuyên”, nghĩa là loại trừ các chuyến đi trong phạm vi nơi ở thường xuyên, các chuyến đi có tổ chức thường xuyên hàng ngày, các chuyến đi thường xuyên có định kì tổ chức phường hội giữa nơi ở và nơi làm việc, và các chuyến đi phường hội khác có tổ chức thường xuyên hàng ngày. 12 - “Khoảng thời gian ít hơn thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước ” - sự quy định này nhằm loại trừ di cư trong một thời gian dài.
- “Không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”- điều đó có nghĩa là loại trừ việc hành nghề tạm thời hoặc lâu dài. Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh: Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá nghệ thuật. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch.[28, tr 284] Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.
Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế. [28, tr 284] Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam năm 1999 thì: “du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu câu tham quam, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân, và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nước”.[17, tr29] 13 Luật Du lịch Việt Nam (được quốc hội thông qua kì họp thứ 7, khoá XI năm 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Khoa Du lịch và Khách sạn - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu của khách du lịch.