Chương I Luật Du lịch số 09/2017/QH14: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phNm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa”. Theo quy định của Điều 15, Chương III Luật Du lịch số 09/2017/QH14. Quy định về các loại tài nguyên du lịch, cụ thể là: + Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.
+ Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch. N hư vậy, có thể hiểu rằng tài nguyên du lịch là những yếu tố nhân tạo hoặc tự nhiên có khả năng sử dụng và khai thác, hướng đến mục thỏa mãn nhu cầu du lịch. N gành du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và tổ chức lãnh thổ của ngành, hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch vụ và chuyên môn hoá các vùng du lịch.
Tổng quan về đầu tư 1. Khái niệm và phân loại đầu tư Hiện nay có rất nhiều khái niệm về đầu tư. Tuy nhiên đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau mà các nhà kinh tế học đưa ra các khái niệm về đầu tư cũng khác nhau như sau: Theo các nhà kinh tế học P.A Samuelson thì cho rằng: “Đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho. Đầu tư cũng 5 có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nghiên cứu, phát minh…”.
Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là việc tiêu dùng hôm nay để làm tăng sản lượng cho tương lai, với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư. Còn theo (Luật đầu tư, 2005), “Đầu tư là nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”. Khái niệm này cho thấy đầu tư chỉ là việc bỏ vốn để hình thành tài sản mà không cho thấy được kết quả đầu tư sẽ thu được lợi ích kinh tế như thế nào nhằm thu hút đầu tư. Một khái niệm chung nhất về đầu tư, đó là: “ Đầu tư được hiểu là việc sử dụng một lượng giá trị vào việc tạo ra hoặc tăng cường cơ sở vật chất cho nền kinh tế nhằm thu được các kết quả trong tương lai lớn hơn lượng giá trị đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó”.
Khái niệm này về cơ bản đã thể hiện được bản chất của hoạt động đầu tư trong nền kinh tế, có thể áp dụng cho đầu tư của cá nhân, tổ chức và đầu tư của một quốc gia. Đồng thời dựa vào khái niệm này để nhận diện hoạt động đầu tư, tức là căn cứ vào đó để thấy hoạt động nào là đầu tư, hoạt động nào không phải là đầu tư theo những phạm vi xem xét cụ thể. Từ các khái niệm trên ta có thể rút ra một số đặc điểm của đầu tư như sau: Hoạt động đầu tư thường sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau và thường sử dụng đơn vị tiền tệ để biểu hiện. Các nguồn lực để đầu tư có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác… thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu nhà nước, tư nhân, nước ngoài… Đầu tư cần phải xác định trong một khoảng thời gian nhất định, tuy nhiên thời gian càng dài thì mức độ rủi ro càng cao bởi vì nền kinh tế luôn thay đổi, lạm phát có thể xảy ra… cũng như các nguyên nhân chủ quan khác có ảnh hưởng đến đầu tư.
Do đó cần phải đưa ra các dự báo về rủi ro để có thể khắc phục. 6 Mục đích của đầu tư là sinh lời trên cả hai mặt: Lợi ích về mặt tài chính – thông qua lợi nhuận gắn liền với quyền lợi của chủ đầu tư, và lợi ích về mặt xã hội – thông qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội hay cộng đồng. Phân loại đầu tư • Đầu tư trực tiếp Theo luật đầu tư 2005, đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia trực tiếp quản lí hoạt động đầu tư. N hà đầu tư có thể là chính phủ thông qua các kênh khác nhau để đầu tư cho xã hội.
Điều này thể hiện chi tiêu của chính phủ thông qua đầu tư các công trình, chính sách xã hội. N goài ra, người đầu tư có thể là tư nhân, tập thể, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt N am. Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà các chủ thể tham gia thể hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong quá trình đầu tư. • Đầu tư gián tiếp Là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tíếp tham gia quản lí hoạt động đầu tư (theo Luật đầu tư 2005).
Tức là nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lí hoạt động đầu tư, người bỏ vốn và người sử dụng vốn không cùng một chủ thể. Các nguồn vốn đầu tư Muốn thực hiện công cuộc đầu tư cần có các nguồn lực đầu vào như lao động, vốn đầu tư, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ. Trong đó nguồn vốn đầu tư là một nhân tố hết sức quan trọng thúc đNy đầu tư phát triển. Để có chính sách thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế bền vững, cần phân loại nguồn vốn đầu tư và đánh giá đúng tầm quan trọng của từng nguồn vốn.
Ở góc độ chung nhất trong một phạm vi quốc gia, nguồn vốn đầu tư được phân thành hai loại: nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. - N guồn vốn đầu tư trong nước N guồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia. N guồn vốn này có ưu điểm là bền vững, ổn định, giảm thiểu được mức rủi ro và tránh được hậu quả từ bên ngoài. N guồn vốn trong nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn 7 tín dụng, vốn của khu vực doanh nghiệp và tư nhân, vốn tiết kiệm được từ dân cư.
Măc dù trong thời đại ngày nay, các đồng vốn nước ngoài cũng trở nên quan trọng không kém nhưng nguồn vốn trong nước vẫn giữ vai trò quyết định. Tuy vậy, nước ta là một nước đang phát triển, nguồn tiết kiệm được từ trong nước còn thấp chưa đủ đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển nên cần phải thu hút vốn tư nước ngoài để tạo cú hích cho đầu tư để phát triển kinh tế xã hội. - N guồn vốn đầu tư nước ngoài So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội, từ đó thúc đNy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt N am với kinh tế thế giới, thúc đNy các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp cũng như phương thức kinh doanh, nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên được khai thác và sử dụng hợp lí hơn. Tuy vậy, trong nó lại luôn chứa Nn những nhân tố tiềm tàng gây bất lợi cho nền kinh tế, đó là sự lệ thuộc, nguy cơ khủng hoảng nợ, sự tháo chạy đầu tư… N hư vậy, vấn đề thu hút vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính sách thu hút vốn đầu tư của nền kinh tế đang chuyển đổi.
Một mặt phải ra sức thu hút đầu tư để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho công cuộc công nghệp hóa – hiện đại hóa đất nước, mặt khác phải kiểm soát chặt chẽ sự di chuyển của dòng vốn nước ngoài để ngăn chặn khủng hoảng tài chính. Để vượt qua những thử thách đó, đòi hỏi nhà nước phải tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi và bền vững cho sự vận động của dòng vốn này. Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm : • Viện trợ phát triển chính thức ODA: Đây là khoản viện trợ của các đối tác viện trợ nước ngoài dành cho chính phủ và nhân dân các nước nhận viện trợ. ODA một mặt nó là nguồn vốn bổ sung cho nguồn vốn trong nước để phát triển kinh tế, bên cạnh đó nó giúp các quốc gia nhận viện trợ tiếp cận nhanh chóng các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, và nó còn tạo điều kiện phát triển phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và đào tạo phát triển nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, các nước nhận viện trợ thường phải đối mặt với nhiều thử thách lớn đó là gánh nặng nợ quốc gia trong tương lai, chấp nhận những 8 điều kiện ràng buộc khắt khe về thủ tục chuyển giao vốn, đôi khi còn gắn cả những điều kiện về chính trị. • Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: Đây là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn vào một nước để đầu tư trực tiếp bằng việc tạo lập những doanh nghiệp. FDI đã và đang trở thành hình thức huy động vốn nước ngoài phổ biến của nhiều nước đang phát triển, nó giúp cho các nước đang phát triển tiếp cận với trình độ quản lí tiên tiến, chuyển giao công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường thế giới, giải quyết việc làm… khai thác triệt để nguồn vốn này nhằm đạt được sự phát triển đạt hiệu quả kinh tế cao.