CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ Cơ SỞ THựC TIỀN 1. Khái niệm về Du lịch Xã hội ngày càng phát triên, chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện, thu nhập có xu hướng tăng lên cùng với một số yếu tố như thời gian nhàn rỗi nhiều, trình độ dân trí được nâng cao, giao thông thuận lợi, hệ thống thông tin được cập nhật nhanh chóng, thì nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng tăng. Họ mong muốn được đến những vùng đất mới đê có thêm hiêu biết, có những trải nghiệm về văn hóa và thiên nhiên nơi vùng đất khác với nơi mình cư trú thường xuyên, với mục đích đê thxr giãn tinh thần, phục hồi sức khỏe, phát triên các mối quan hệ xã hội mới. Đi du lịch cũng là mục tiêu tận hưởng cuộc sống của con người hiện đại.
Tuy nhiên, đê tiếp cận với việc định nghĩa “du lịch” thì tùy vào thời gian, khu vực và góc độ nhìn nhận của người nghiên cứu về du lịch mà chúng ta có rất nhiều khái niệm khác nhau. Như Bemeker - một chuyên gia hàng đầu về du lịch đã nhận định “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” Định nghĩa về du lịch (tourism) lần đầu tiên được đưa ra trong từ điên Oxford tại Anh (năm 1811) như sau “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng griĩa lý thuyết và thực hành cùa các cuộc hành trình với mục đích giải trí”. Định nghĩa này cho thấy du lịch là việc thực hiện một ke hoạch đã được lên từ trước với mục đích của chuyến đi là giải trí. Tại Hội nghị Liên Hiệp quốc về du lịch họp tại Roma - Italy (21/08/1963 - 05/09/1963), các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch “Du lịch là tông hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bat nguồn ư'r các cuộc hành trình và lưu trú cùa cá nhân hay tập thê ở bên ngoài nơi ờ thường xuyên của họ hay ở ngoài nước với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” 21 Tháng 6/1991, tại Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ờ Otawa (Canada) cũng đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động cùa con người đi tới một nơi ngoài nơi ờ thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tô chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là đê tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đen thăm”. Khái niệm này cho ta thấy được sự tham gia của tô chức du lịch trong quá trình sắp xếp chuyển đi cho du khách và mục đích của chuyến đi không phải là đê kiếm tiền. Theo tô chức du lịch thế giới (UNWTO - năm 1993) “Du lịch là hoạt động của chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó đê tham quan, nghi ngơi, vui chơi, giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động đê có thù lao ở nơi đen với thời gian liên tục ít hơn một năm” Theo hr điên Bách Khoa toàn thư Việt Nam (năm 1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt: - Nghĩa tỉm nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyển đi): Du lịch là một dạng nghi dưỡng sire tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghi ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật - Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tông hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiêu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất mrớc; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thê coi là hình thức xuất khâu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005 “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp irng nhu cầu tham quan, tìm hiêu, giải trí, nghi dirỡng trong một khoảng thời gian nhất định” 22 Đen Luật du lịch Việt Nam năm 2017 có sửa đôi bô sung: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi cùa con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghi dưỡng, giải trí, tìm hiêu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.
Hoạt động du lịch Theo mục 3, điều 3, chương I cùa Luật du lịch Việt Nam năm 2017 “Hoạt động du lịch là hoạt động cùa khách du lịch; tô chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tô chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch” Như vậy, hoạt động du lịch yêu cầu phải có 4 chù thê cùng tham gia là khách du lịch, doanh nghiệp du lịch, cộng đồng địa phương tại diêm du lịch và cơ quan quản lý địa phương. Hoạt động du lịch là một dạng hoạt động xã hội cụ thê, có mối quan hệ với các lĩnh vực đời sống xã hội khác nhau theo tính chất: Tông hợp + xã hội hóa Liên ngành, liên vùng Hoạt động du lịch ĩà một ngành kinh tế dịch vụ tông hợp-. Khách du lịch trong một chuyến đi du lịch, ngoài việc đê thỏa mãn mục đích nhrr tham quan, giải trí, nghi dưỡng, chừa bệnh,. thì họ vần có có nhu cầu thường ngày như ăn, ngủ, tiêu dùng một số hàng hóa thiết yếu hàng ngày, mua hàng lưu niệm,.
Hoạt động du lịch mang tỉnh liên ngành-, hoạt động du lịch chi có thê phát triên khi có sự liên kết, phổi hợp với nhiều ngành nghề khác nhau như tài chính ngân hàng, giao thông vận tải, hải quan, biru chính viễn thông, văn hóa,. Trong chuyến đi, du khách không chi sử dụng các dịch vụ hàng hóa cùa các cơ sở du lịch mà họ còn phải sử dụng các dịch vụ như xin visa cùa Hải quan; dịch vụ đôi tiền của Ngân hàng; gọi điện, gởi bmi 23 thiếp của Bmi chính; đi lại bằng đường bộ, hàng không, tàu thủy,. của Giao thông vận tải; tham quan các di tịch lịch sử, văn hóa, biêu diễn nghệ thuật của ngành Văn hóa Hoạt động du lịch mang tính liên vùng: thực tế mỗi địa phương/vùng sẽ có những sản phàm du lịch đặc trưng, điều này tạo nên sự đa dạng các sân phàm du lịch. Sự liên kết liên vùng được thê hiện qua các tuyến du lịch với nhiều diêm du lịch của một khu vực, một vùng, một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau.
Việc liên vùng trong tuyến diêm du lịch sẽ giúp du khách có những trải nghiệm nhiều loại hình du lịch khác nhau. Nlnr vậy, hoạt động du lịch là một hoạt động có nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tông thê phírc tạp, nó vừa có đặc diêm của ngành kinh tế, lại có đặc diêm của ngành văn hóa - xã hội, góp phần thúc đây nhiều ngành kinh tể cùng phát triên nên vai trò của du lịch trong hoạt động kinh tế quốc dân đang ngày càng khăng định vị trí quan trọng của mình trong hoạt động kinh tế thế giới. Sản phẩm du lịch Theo Tô chức Du lịch The giới (UNWTO) thì: “Sản phàm du lịch là tông hợp của 3 nhóm yếu tố cấu thành: (1) Tài nguyên du lịch; (2) Ket cấu hạ tầng du lịch; (3) Cơ sờ vật chất kỹ thuật, dịch vụ, lao động và quản lý du lịch”. Đê tạo ra sự hấp dẫn và sire thu hút đối với du khách, ngoài các yếu tố về tự nhiên, điều quan trọng chúng ta cần có sự đầu tư về tri thức và khả năng sáng tạo.
Đê có thê khai thác hết hiệu quả tài nguyên du lịch, thì đòi hỏi phải có cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch và các cơ chế chính sách đồng bộ cho du khách tham gia du lịch một cách thuận tiện nhất như sân bay, bến cảng, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, hệ thống cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc. Đỗ Quốc Thông: “Sản phàm du lịch được cấu thành từ nhiều yếu tố như tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, đội ngũ phục vụ, kết cấu cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tạo thành một tông thê phức hợp nhằm mục đích cung cấp những trải nghiệm du lịch thú vị và sự hài lòng cho khách du lịch”, định nghĩa này cho ta thấy sản phẩm du lịch tnrớc hết phải thòa mãn được những nhu cầu về tinh thần cho 24 du khách sau đó mới là nhu cầu về vật chất. Chính vì điều này, những người hoạt động trong lĩnh vực du lịch phải có kiến thức, m duy và sự sáng tạo đê có thê nắm bắt được những nhu cầu du lịch ngày càng cao và đa dạng cùa du khách. Theo mục 5, điều 3, chương I của Luật du lịch Việt Nam năm 2017 “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch đê thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”.
Đặc điêm của sản phẩm du lịch Tinh vô hình', giá trị của sản phàm du lịch mang lại chính là sự thư giãn, nghi ngơi, hiêu biết về một vùng đất mới, đó là giá trị về tinh thần chứ không phải nhir một sản phàm cụ thê có giá trị cụ thê khi người ta mua nó. Vi tính vô hình này mà đòi hỏi những người làm du lịch phải chứng minh được giá trị sản phàm cùa mình là chất lượng thông qua việc tạo nên sự trải nghiệm đúng và hơn cả những gì quảng cáo mới mang lại được sự tín nhiệm cho doanh nghiệp hì hành, từ đó mới nâng cao được danh tiếng thương hiệu cho doanh nghiệp. Tính khó biết trước được giả trị thật', đặc trưng của sản phàm du lịch chính là thời gian sản xuất trùng với thời gian tiêu thụ, nên người mua khó biết được giá trị thật của sản phàm du lịch của mình có chất lượng hay không ngay khi mua. Thông thường du khách chi có thê chọn sản phâm du lịch thông qua sự tin tưởng, thương hiệu của doanh nghiệp được nhiều người khen ngợi, đánh giá cao hoặc phù hợp với nhu cầu của du khách.
Tinh không thê lưu trừ', các dịch vụ trong sản phâm du lịch như vận chuyên, hru trú, ăn uống, .