CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG HỒ SƠ ĐỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN HỨNG THÚ ĐỌC THƠ HIỆN ĐẠI CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Một số vấn đề về thơ hiện đại và việc phát triển hứng thú đọc thơ hiện đại cho học sinh trung học phổ thông 1. Vấn đề thể loại thơ hiện đại Một trong những định hướng cơ bản trong dạy học đọc VBVH nói chung và thơ hiện đại nói riêng là phải bám sát đặc trưng thể loại của VB.
Đối với dạy đọc thơ hiện đại, cách thức tối ưu để hình thành và phát triển HT đọc thơ hiện đại cho HS THPT là khai thác hiệu quả các yếu tố đặc trưng của thể loại này. Theo cách kiến giải của văn học sử, thơ hiện đại là thể loại thơ ca vượt thoát khỏi hệ thống thi pháp trung đại và hòa nhập vào quỹ đạo của nền thơ ca hiện đại thế giới. Ở Việt Nam, sự hình thành và phát triển mô hình thơ hiện đại là hệ quả của quá trình hiện đại hóa văn học (tiếp xúc và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học phương Tây). Thơ hiện đại vừa mang những Khóa luận giáo dục học đặc trưng chung của thơ vừa có những đặc điểm riêng chịu sự chi phối của hệ thống thi pháp hiện đại.
Do đó, khi tiếp cận VB thơ hiện đại, bên cạnh các yếu tố đặc trưng của thơ, GV cần soi chiếu và đánh giá qua lăng kính thi pháp hiện đại và hệ thống giá trị của văn học hiện đại. Mặt khác, bộ phận thơ hiện đại của mỗi dân tộc lại có tiến trình phát triển gắn với bối cảnh cụ thể. Vì vậy, trong dạy đọc thơ hiện đại Việt Nam, GV cần quan tâm đến tiến trình tổng thể của nền thơ hiện đại cũng như các khuynh hướng/xu hướng vận động của mỗi giai đoạn. Thông qua đó, GV có thể giúp HS có cái nhìn tổng quan về con đường phát triển của thơ ca dân tộc.
Dưới đây là một số phương diện có khả năng khơi gợi HT đọc thơ của HS: Thứ nhất là phương diện tổ chức hình thức bài thơ Dấu hiệu đầu tiên để xác định một đối tượng VB có thể là thơ là dựa vào cách tổ chức hình thức câu chữ trên trang giấy, tức là hình thức bài thơ. “Điều mà bạn gần như chú ý đầu tiên ở một bài thơ là hình thức (form) của nó hoặc cách thức ngôn từ được tổ chức đặc biệt trên trang giấy. Hình thức đề cập đến độ dài và cách sắp đặt 14 các dòng và cách chúng được nhóm trong khổ thơ”21. Việc tổ chức ngôn ngữ trên phương diện bề mặt dự phần vào việc khơi gợi những diễn giải về VB thơ.
Jonathan Culler trong Thi học của thơ trữ tình đã đặt ra vấn đề này một cách lí thú như sau: “Nếu một người lấy một mẩu tin trên báo thường và sắp chữ lên trang giấy như một bài thơ trữ tình, để những cái lề hăm dọa của lặng im bao quanh, thì chữ vẫn là chữ trong mẩu tin nhưng các tác động của nó lên độc giả thì thay đổi rất nhiều (…) Đặc trưng hiển nhiên nhất của tổ chức hình thức của thơ là việc chia thơ thành các dòng và các khổ”22. Việc tổ chức hình thức của thơ không nằm ngoài quỹ đạo sáng tạo của thi sĩ, ngầm ẩn dụng ý nghệ thuật từ cách lựa chọn thể thơ truyền thống hay các biến thể của nó, từ phương thức “lạ hóa” trong tổ chức ngôn ngữ VB… Thơ hiện đại trao quyền tự do cho thi sĩ trong việc kiến tạo hình thức bài thơ. Nhà thơ hiện đại có thể kế thừa các hình thức truyền thống hoặc có thể lựa chọn hình thức mới lạ cho những tác phẩm của mình. Việc tổ chức hình thức bài thơ không nằm ngoài quỹ đạo sáng tạo của thi sĩ.
Do đó, không thể không quan tâm đến phương diện này khi tiếp cận VB thơ hiện đại. GV có thể xây dựng các nhiệm vụ hướng HS chú ý đến hình thức bài thơ (đối với Khóa luận giáo dục học các VB có hình thức độc đáo) để giúp HS phát hiện và lí giải sự sáng tạo độc đáo của nhà thơ. Thứ hai là phương diện các yếu tố mang tính thơ Khi định nghĩa về thơ, Edgar Allan Poe phát biểu rằng:“Tôi định nghĩa rất ngắn về thơ ca, ngôn ngữ thơ là nhịp điệu thẩm mỹ.” Yếu tố đầu tiên phải kể đến như một thuộc tính cố hữu của thơ là nhạc tính trong thơ, liên quan đến “vấn đề nhịp điệu và các mô thức ngữ âm (…). Người ta không “nghe” khi đọc văn xuôi tiêu chuẩn; chỉ có trong thơ người ta mới đi tìm các biến thể vần luật và nhịp điệu .”23 Có thể thấy, thơ là tổ chức ngôn từ có nhịp điệu, khai thác giá trị của nghệ thuật tổ chức ngôn từ trong việc phổ “giai điệu” cho VB.
“Phần lớn sức mạnh của thơ phụ thuộc vào nhịp điệu (…). Các nhà thơ sử dụng nhịp điệu để nhấn mạnh những từ hoặc ý tưởng quan trọng 21 Connell, F. 22 Nguyễn Thị Minh trích dịch từ Jonathan Culler, Structurualist Poetics, Structuralism, Linguistics, and the Study of Literature, New York: Cornell University Press, 1975, tr. Truy xuất từ https://nguyenthiminh1985.com/2019/09/02/thi-hoc-cua-tho-tru-tinh-janathan-culler/ ngày 15/1/2020 23 Nguyễn Thị Minh trích dịch, Tlđd 15 và để tạo ra cảm xúc phù hợp với chủ đề của họ.”24 Trong đó tiết tấu, vần, thanh điệu và nhạc tính của từ là những yếu tố cố kết để tạo nên thuộc tính trên của thơ ca, thông qua các thủ pháp âm thanh (phối thanh, điệp, phân nhịp, gieo vần…).
Phương diện này có khả năng tác động mạnh mẽ đến HT của người đọc, lôi cuốn họ vào “giai điệu” của VB, đặc biệt khi VB được ngâm/đọc diễn cảm. Khai thác hiệu quả nhịp điệu của VB sẽ giúp HS cảm nhận sự sống động của tiếng nói trữ tình, qua đó có HT hơn với việc đọc thơ hiện đại. Yếu tố thứ hai chúng tôi đề cập đến là ngôn ngữ thơ ca. Jakobson – đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hình thức luận chủ trương rằng: “Thơ là cách tạo hình với từ ngữ có giá trị tự tại.
Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó”, “Thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh”25. Ngôn ngữ thơ buộc người đọc phải thoát ra khỏi quy luật tiết kiệm của cảm thụ so với các diễn ngôn thông thường, theo như cách Sklovski đã viết trong tiểu luận Nghệ thuật như là thủ pháp, chúng “được tạo dựng một cách cố ý để đưa sự cảm thụ ra khỏi tính tự động hóa”. Nguyên tắc lạ hóa được xem như là nguyên tắc điển hình để cấu trúc ngôn ngữ thơ ca. Trong thơ trữ tình, ngôn ngữ cụ thể Khóa luận giáo dục học của sự vật, hình ảnh được nâng thành ngôn ngữ biểu tượng nhờ các thủ pháp đặc biệt như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, cường điệu, phát huy hiệu quả chức năng biểu hiện, biểu cảm và miêu tả của ngôn ngữ.
Ngôn ngữ thơ vừa mang những đặc trưng chung của ngôn ngữ nghệ thuật như tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hóa, tính cụ thể hóa vừa mang những đặc trưng ưu việt của thơ như tính hàm súc, đa nghĩa, tính biểu cảm, tính nhạc. Theo đó, khi đối lập ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi, một số tác giả đặc biệt nhấn mạnh: ngôn ngữ thơ có tính gián đoạn, không liên tục, thậm chí nhảy vọt, tạo nên những khoảng trống mơ hồ, kích hoạt cơ chế cảm thụ và tạo nghĩa cho các khoảng trống ấy. Chú trọng xây dựng các nhiệm vụ định hướng HS tìm hiểu các giá trị đặc sắc của ngôn từ và hình tượng ngôn từ trong thơ hiện đại, GV có thể khiến HS nảy sinh những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh và tích cực trong quá trình cảm thụ VB thơ hiện đại. Truy xuất từ http://www.net/tho/dangtien/thiphap/dt_tholagi.html ngày 6/2/2020 16 Thứ ba là cách thức biểu hiện của thơ Như chúng tôi đã đề cập ở luận điểm trên đây, trong lĩnh vực thơ ca, ngôn ngữ cụ thể được nâng lên thành ngôn ngữ của biểu tượng, tạo nên cách thức biểu hiện đặc thù của thơ: Thơ biểu hiện bằng hình ảnh, biểu tượng mang nghĩa.
Các hình ảnh, biểu tượng thơ được hoài thai từ trí tưởng tượng sáng tạo, liên tưởng phong phú của người nghệ sĩ. Cũng chính vì vậy mà thơ ca có sức mạnh ưu việt trong việc tác động vào thế giới bên trong của người đọc, buộc họ phải hình dung, tưởng tượng, tái tạo lại thế giới hình ảnh được gợi lên trong thơ và suy ngẫm về các biểu tượng, hình tượng đó. Giúp HS hình dung về cách thức biểu đạt độc đáo và sáng tạo của thơ hiện đại, GV có thể khơi gợi HT đọc và mở rộng hoạt động đọc thơ hiện đại cho HS. Như vậy, trong dạy đọc VB thơ nói chung và thơ hiện đại nói riêng, GV phải bám sát các đặc trưng chung của thể loại cũng như những đặc điểm riêng của mỗi VB để tổ chức nội dung và hoạt động phù hợp.
Đồng thời khai thác hiệu quả các đặc trưng của thơ hiện đại để phát triển HT đọc cho HS. Khóa luận giáo dục học 1. Một số lưu ý khi dạy đọc thơ hiện đại theo định hướng phát triển hứng thú đọc a) Bám sát đặc trưng thể loại thơ hiện đại Các tri thức công cụ về thể loại là những chỉ dẫn hữu ích, hỗ trợ HS trong hành trình khám phá các giá trị đặc sắc của VB thơ hiện đại, giúp HS biết tự kiến tạo các trải nghiệm đọc thú vị khi đọc VB. Chính các giá trị thẩm mĩ mà HS cảm nhận từ hoạt động đọc thơ hiện đại sẽ là nhân tố thôi thúc HS chủ động trở lại việc đọc, tiếp tục các hành trình đọc mới.
Không phải VB nào cũng thành công trên tất cả các phương diện hình thức thể loại. Trong dạy đọc thơ hiện đại, GV cần đưa ra những hướng dẫn vừa bám sát đặc trưng thể loại vừa linh hoạt theo từng VB, khuyến khích HS tự nhận thức, kiến giải và đánh giá các giá trị của VB. Mặt khác, mỗi thể loại đều có sự hấp dẫn riêng của nó. GV nên định hướng HS chú ý vào những yếu tố đặc sắc của thơ hiện đại, nhờ đó có thể kích hoạt và phát triển HT đọc thể loại này của HS.