Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Tổ chức dạy học kịch bản chèo cho HS lớp 10 theo hướng tiếp cận văn hóa. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dạy văn bản văn học theo hướng tiếp cận văn hóa 1. Khái niệm văn hóa Từ thế kỷ XIX đến nay có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về văn hóa. Năm 1959, Leslie Alvin White có nêu một quan niệm đáng chú ý về văn hóa khi ông cho rằng văn hóa là các biểu tượng, các sự vật, hiện tượng hay hành động có gắn với năng lực tạo ra biểu tượng của con người.
Trong nhiều lớp sự vật, hiện tượng mà khoa học hiện đại nghiên cứu có một lớp chưa có động, các sự vật ý nghĩa tượng trưng và năng lực tiếp nhận các biểu tượng tên gọi. Đó là lớp hiện tượng gắn liền với năng lực cấp cho tư tưởng, hành vốn là năng lực chỉ con người mới có. Chúng tôi đề nghị gọi lớp sự vật, hiện tượng gắn liền với sự biểu tượng hoá là lớp các biểu tượng. White nhấn mạnh đến năng lực riêng chỉ con người mới có là năng lực tạo ra biểu tượng (symbolization), từ đó coi văn hóa chính là hệ biểu tượng.
Năm 1871, Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [35; tr. Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa của Tylor mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người. White định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” [36; tr. 13 Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau.
Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [18; tr. Với quan niệm này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra. Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng: Văn hóa bao gồm cả hệ thống giá trị tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh [32; tr.
Theo định nghĩa này thì văn hóa là những gì đối lập với thiên nhiên và do con người được sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc. Có một quan niệm khác thu hẹp khái niệm văn hóa vào biểu tượng. Hai nhà nghiên cứu Lê Nguyên Cẩn và Trần Lê Bảo khi bàn về ứng dụng văn hóa trong nghiên cứu văn học đều nói đến việc nghiên cứu biểu tượng. Lê Nguyên Cẩn viết: “Để tạo ra góc nhìn văn hóa, chúng tôi tiếp cận TP từ hệ thống các biểu tượng văn hóa” [5; tr.
Trần Lê Bảo đề cập đến sự cần thiết “giải mã văn hóa” trong TP văn học, và sự giải mã văn hóa này thực chất theo ông là tập trung vào những ký hiệu và biểu tượng văn hóa để phân tích nội hàm của chúng: “xét từ góc độ phù hiệu văn bản, tập trung chủ yếu ở ngôn ngữ, những ký hiệu, biểu tượng văn hóa, từ đó mở rộng phân tích lí giải những nội hàm văn hóa của chúng - như mọi người thường gọi là giải mã văn hóa - đây là công việc đầu tiên vô cùng quan trọng trong quá trình tìm hiểu, phân tích văn hóa trong TP văn học cụ thể” [1; tr. Nguyễn Văn Dân khi tổng kết các thành tựu tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam đã viết: “Trong khi tiếp cận văn học từ nhiều hướng, ta có thể đặt hiện tượng văn học vào môi trường văn hóa để lí giải và đánh giá giá trị lịch sử của hiện tượng văn học đó. Và điều quan trọng là phải xác định được chính xác các mối liên hệ giữa hiện tượng văn học đó với các tư tưởng và motip văn hóa cụ thể” [10; tr. 14 Nhân danh tiếp cận văn hóa, người đọc vừa tìm hiểu những ý nghĩa nội tại, vừa tìm hiểu những ý nghĩa ngoại vi – bao gồm cả hiện tượng phát sinh và phát triển – của tác phẩm văn học; tất cả đều mang những tín hiệu văn hóa một thời, dưới mắt nhà nghiên cứu hiện đại.
Do ý nghĩa phức tạp của khái niệm văn hóa, nhiều nhà nghiên cứu “chỉ vận dụng một số kiến thức văn hóa mà họ cho là cần thiết để đọc văn học, chứ chưa có ý thức xây dựng một hệ thống vấn đề mang tính chất lý thuyết cho việc đọc tác phẩm văn học bằng văn hóa” [35, tr. Tự đặt cho mình nhiệm vụ “phải góp phần hoàn thiện hệ thống vấn đề mà thế hệ đi trước đã khởi xướng”, Trần Nho Thìn “không chủ trương tìm một định nghĩa văn hóa của riêng mình” mà chỉ “đặc biệt lưu ý đến quan niệm giá trị của chủ thể văn hóa” [35, tr. Cái “quan niệm giá trị” ấy, thực ra lại luôn chuyển hóa theo thời đại và gắn bó hữu cơ với chủ thể văn hóa, trở thành bản chất của khái niệm văn hóa, một khái niệm mà nhà nghiên cứu cho rằng không cần định nghĩa thêm. Quan niệm về “Một số vấn đề lý luận của văn học Trung đại nhìn từ góc độ văn hóa” và luận chứng từ những bài viết “Tiếp cận văn hóa với một số tác giả, tác phẩm Trung đại tiêu biểu” của Trần Nho Thìn là những kinh nghiệm quý báu mà luận văn này đã tiếp thu và phát triển để giải quyết vấn đề đặc thù thể loại Chèo cổ.
Để xác lập góc nhìn, luận văn này đưa ra khái niệm chung về văn hóa là một hệ thống giá trị nhận thức của cộng đồng, tồn tại tương đối bền vững, biểu hiện thành thái độ và phương thức ứng xử của con người đối với bản thân và đối xã hội vào một thời kỳ lịch sử nhất định. Từ đó, luận văn phát hiện một số dạng thức (có thể gồm nhiều kiểu thức) về biểu tượng (thực vật, động vật,…), nhân vật và ngôn ngữ xuất hiện trong tác phẩm văn học biểu đạt những nội dung nhất định, hướng đến những giá trị văn hóa, theo quan niệm của chủ thể sáng tác văn học. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Chọn góc nhìn văn hóa để tiếp cận văn học thì văn học phải được miêu tả và phân tích trước tiên. Văn học thể hiện văn hóa, chịu sự quy định của văn hóa, tương 15 tác với văn hóa.
Xét về một ý nghĩa nào đó, nhà văn là người đã viết nên lịch sử tâm hồn văn hóa dân tộc mình bằng văn học để thức nhận những ký ức văn hóa dân tộc nơi người đọc. Tiếp xúc với TP văn học cũng chính là tiếp xúc với những giá trị văn hóa được nhà văn phản ánh trong đó, nhất là những TP văn học mà đối tượng phản ánh là những vấn đề văn hóa như TP văn học viết về phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng, các truyền thuyết lịch sử, lễ hội…. Dấu ấn văn hóa ở những TP văn học thuộc thể tài này là đối tượng nghiên cứu của văn hóa học ứng dụng, khi chúng ta tìm hiểu các giá trị văn hóa nhìn từ văn học, dựa trên cơ sở lý thuyết liên ngành giữa văn học và văn hóa. Bởi, theo Likhachốp: “Trong khi kiếm tìm những đặc điểm của nền văn hóa, trước hết, chúng ta cần phải tìm hiểu sự trả lời ở văn học và chữ viết.
Không hiếm các ví dụ về ảnh hưởng của văn hóa truyền thống trong văn học Việt Nam thế kỷ XX. Lâu nay, không ít nhà nghiên cứu vẫn nghĩ rằng, bước sang thế kỷ XX, do ảnh hưởng của quá trình hiện đại hoá văn học mà thi pháp hiện đại ảnh hưởng của văn học phương Tây đã đẩy lùi thi pháp văn học trung đại. Trên thực tế, quá trình vượt thoát thi pháp văn học trung đại là một quá trình lâu dài, không dễ gì thực hiện trong một sớm một chiều. Quan niệm văn hóa về tính chủ động thuộc về nam giới, tính bị động thuộc về nữ giới hầu như đã thấm vào máu của người Việt Nam, trở thành cái vô thức, cổ sức sống lâu dài.
văn hóa có sức sống lâu bền hơn chính trị, khi một sự kiện thi chính trị diễn ra, một chế độ mới ra đời thì không nhất thiết tất cả các yếu tố của nền văn hóa cũ lập tức tiêu vong. Đặc điểm này của văn hóa đòi hỏi chúng ta khi nghiên cứu về những bước chuyển biến của văn học, đặc biệt là trình “hiện đại hoá” văn học, phải chú ý không những đến phương diện thay đổi, biến đổi mà cả phương diện bảo lưu, duy trì của văn hóa truyền thống như một dòng chảy trong lịch sử văn học dân tộc. Một số nhà nghiên cứu khi bàn về văn hóa và văn học dân gian có xu hướng đối lập khá cực đoan văn hóa Nho giáo và văn hóa dân gian theo hướng là cái gì thuộc văn hóa dân gian Việt Nam đều tốt đẹp, còn những gì thuộc Nho giáo đều xấu. Trương Tửu là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên ở thế kỷ XX đã phác thảo một đối lập tuyệt đối giữa văn hóa Nho giáo và văn hóa dần gian truyền thống: “Quá tôn sùng 16 lí tính, Nho giáo đàn áp tất cả những tình cảm bồng bột của con người.
Nó đặt ra bao nhiêu lễ nghi, phong tục để trói buộc trái tim. Nó kiềm chế sức phát triển cá nhân. Nó giảng dạy một thứ hi sinh nô lệ.