CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU.1 Khái niệm và một số vấn đề liên quan 1.1 Khái niệm logistics Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hy Lạp - Logistikos -, theo đó, trong tiếng Việt định nghĩa từ gần nhất là “hậu cần”. Nó phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, các nhà nghiên cứu học và các tổ chức đã đưa ra những khái niệm, định nghĩa về “logistics”. Song có thể phân loại khái niệm logistics thành hai hướng tiếp cận được đề cập phổ biến hiện nay là: Nhóm định nghĩa hẹp và Nhóm định nghĩa rộng.
Nhóm định nghĩa hẹp cho rằng dịch vụ logistics chủ yếu dừng lại ở các dịch vụ liên quan đến hàng hoá. Theo đó các khái niệm trong nhóm này cho rằng bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng. Nhóm định nghĩa rộng gắn chặt logistics với 2 giai đoạn cụ thể là: Quá trình nhập nguyên vật liệu đầu vào và Hàng hoá được cung ứng tới tay người tiêu dùng. Nhóm định nghĩa này phân định rõ vai trò của từng nhà cung cấp dịch vụ đơn lẻ như: Dịch vụ vận tải, dịch vụ giao nhận, dịch vụ hải quan, dịch vụ pháp lý, dịch vụ hỗ trợ sản xuất và dịch vụ phân phối hàng hoá.
Tuy nhiên trong bài nghiên cứu khoa học này, chúng tôi xin định nghĩa logistics theo Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 về kinh doanh dịch vụ logistics, tức là “Dịch vụ logistics được cung cấp bao gồm: Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay; Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển; Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải; Dịch vụ chuyển phát; Dịch vụ đại lý vận tải hàng hoá; Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan); Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hoá, kiểm định hàng hoá, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải; Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng hoá lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hoá và giao hàng; Dịch vụ vận tải hàng hoá thuộc dịch vụ vận tải biển; Dịch vụ vận tải hàng hoá thuộc dịch vụ vận tải đường thuỷ nội địa; Dịch vụ vận tải hàng hoá thuộc dịch vụ vận tải đường sắt; Dịch vụ vận tải đa phương thức; Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật; Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác; Các dịch vụ khác do thương 6 nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thoả thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại.2 Khái niệm phát triển hoạt động logistics - Đặc điểm của hoạt động logistics Theo Bùi Duy Linh (2018), ngành logistics sở hữu 4 đặc điểm chính, đó là: Một là, logistics là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên ba khía cạnh chính: Logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống. Logistics sinh tồn là hình thái cơ bản nhất của dịch vụ logistics, có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống, là quá trình vận chuyển sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Logistics hoạt động là bước phát triển mới của logistics sinh tồn và gắn với quá trình sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp, liên quan đến vận chuyển, lưu kho cho các nguyên liệu đầu vào, đầu ra. Logistics hệ thống là các yếu tố giúp cho việc duy trì hệ thống hoạt động như nhà xưởng, máy móc, thiết bị,… Hai là, logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động cũng như khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
Logistics còn hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp thông qua công tác quản lý di chuyển và lưu kho nguyên vật liệu đi vào doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp. Ba là, logistics là hình thái phát triển cấp cao của dịch vụ vận tải giao nhận. Cùng với quá trình phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng hoá khái niệm vận tải giao nhận truyền thống. Từ chỗ chỉ thực hiện các hoạt động thuê phương tiện, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói, làm các thủ tục hải quan một cách rời rạc cho tới cung cấp dịch vụ trọn gói từ kho đến tay người tiêu dùng.
Từ chỗ đóng vai trò đại lý trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh. Bốn là, logistics là hình thái phát triển hoàn thiện của dịch vụ vận tải đa phương thức. Trước đây, hàng hoá đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu và trải qua nhiều phương tiện vận tải khác nhau, vì vậy xác suất rủi ro mất mát hàng hoá là rất cao. Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉ cần ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO).
MTO sẽ chịu toàn bộ trách nhiệm về việc vận chuyển hàng hoá từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ vận tải duy nhất. - Khái niệm “Phát triển hoạt động logistics” Qua 4 đặc điểm trên thì có thể đưa ra kết luận: Logistics là hình thái phát triển cao cấp và hoàn thiện của dịch vụ vận tải, giao nhận. Logistics sở hữu toàn bộ những đặc điểm của các hoạt động hậu cần rời rạc nhưng mang tính hệ thống và có liên hệ mật thiết với nhau. “Phát triển hoạt động logistics” chính là việc đảm bảo khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh so với đối thủ thông qua liên kết các nhà cung cấp, nhà 7 sản xuất, kho bãi, cửa hàng một cách hiệu quả nhằm cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp, từ đó thoả mãn được nhu cầu của khách hàng.2 Vị trí và vai trò của hoạt động logistics trong doanh nghiệp Ngành logistics có vị trí ngày càng quan trọng trong các nền kinh tế hiện đại và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và toàn cầu.
Ngày nay, trong nền kinh tế mở, toàn cầu hóa rộng rãi, hoạt động logistic khẳng định vị thế của nó trong nền kinh tế nói chung và trong mỗi doanh nghiệp nói riêng. Vì thế không thể phủ nhận vai trò của hoạt động logistic trong mỗi doanh nghiệp. Vậy hoạt động logistics có vai trò gì trong doanh nghiệp? • Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường. Trong các nền kinh tế hiện đại, sự tăng trưởng về số lượng của khách hàng đã thúc đẩy sự gia tăng của các thị trường hàng hoá và dịch vụ trong nước và quốc tế.
Có rất nhiều sản phẩm và dịch vụ mới được giới thiệu và phân phối đến toàn cầu trong thập kỷ vừa qua. Để giải quyết các thách thức do thị trường mở rộng và sự tăng nhanh của hàng hoá và dịch vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng quy mô và tính phức tạp, phát triển các nhà máy liên hợp thay thế cho những nhà máy đơn. Hệ thống logistics hiện đại đã giúp các hãng làm chủ được toàn bộ năng lực cung ứng của mình qua việc liên kết các hoạt động cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối kịp thời chính xác. Nhờ đó mà đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu.
Chính vì vậy, sự phân phối sản phẩm từ các nguồn ban đầu đến các nơi tiêu thụ trở thành một bộ phận vô cùng quan trọng trong GDP ở mỗi quốc gia. • Tối ưu hoá chu trình lưu chuyển của sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng Logistics hỗ trợ sự di chuyển và dòng chảy của nhiều hoạt động quản lý hiệu quả, nó tạo thuận lợi trong việc bán hàu hết các loại hàng hoá và dịch vụ. Để hiểu hơn về hình ảnh hệ thống này, có thể thấy rằng nếu hàng hoá không đến đúng thời điểm, không đến đúng các vị trí và với các điều kiện mà khách hàng cần thì khách hàng không thể mua chúng, và việc không bán được hàng hoá sẽ làm mọi hoạt động kinh tế trong chuỗi cung cấp bị vô hiệu. • Tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông.
Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông. Mác đã từng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận 8 tải”. Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa.
Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB, hay 8-9% giá CIF. Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm chi phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông. • Gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ.