CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LOGISTICS, ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LOGISTICS VÀ BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUỐC GIA VỀ LOGISTICS 1.1 Khái niệm và vai trò của logistics 1.1 Khái niệm logistics Về mặt lịch sử, thuật ngữ logistics bắt nguồn từ các cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế Hy Lạp và La Mã. Khi đó, những chiến binh có chức danh “Logistikas” được giao nhiệm vụ cung cấp, phân phối vũ khí và nhu yếu phẩm, đảm bảo điều kiện cho quân sỹ hành quân an toàn từ bản doanh đến một vị trí khác. Công việc “hậu cần” này có ý nghĩa sống còn tới cục diện của chiến tranh, khi các bên tìm mọi cách bảo vệ nguồn cung ứng của mình và tìm cách triệt phá nguồn cung ứng của đối phương. Quá trình tác nghiệp đó dần hình thành một hệ thống mà sau này gọi là quản lý logistics.
Trong thế chiến thứ hai, vai trò của “logistics” càng được khẳng định. Đội quân hậu cần của quân đội Mỹ và đồng minh tỏ ra có hiệu quả hơn của quân đội Đức. Quân Mỹ đã đảm bảo cung cấp vũ khí, đạn dược, và quân nhu đúng địa điểm, đúng thời gian, bằng những phương thức tối ưu. Nhờ phát huy ưu thế về công tác hậu cần mà Mỹ và đồng minh đã nhiều lần chiếm ưu thế trong cuộc chiến tranh.
Cũng trong thời gian này, nhiều ứng dụng về logictics đã được phát triển và vẫn còn được sử dụng đến ngày nay, mặc dù đã có ít nhiều thay đổi để phù hợp với môi trường sản xuất kinh doanh. Hiện nay, khái niệm về logistics rất đa dạng và mỗi ngành nghề và lĩnh vực sản xuất thì đều có một định nghĩa riêng về logistics dưới nhiều góc nhìn khác nhau. Để tóm tắt, chúng ta có thể xem xét một số khái niệm logistics chủ yếu như sau: Năm 1988, Hội đồng quản trị logistics của Hoa Kỳ - LAC1 quan niệm rằng: “Logistics là quá trình hoạch định, tổ chức, thực hiện và kiểm soát một các có hiệu quả quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng”. Đây cũng là định nghĩa được chú ý nhiều nhất và sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.
Lambert , Fundamentals of Logistics Management, 1998 9 Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng thì logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.2 Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ thì định nghĩa: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Ở Việt Nam, khái niệm về logistics chưa hình thành trong bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào. Tuy nhiên, trong Điều 233 Luật Thương Mại năm 2005 có định nghĩa về dịch vụ logistics như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại mà theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận của khách hàng để hưởng thù lao”. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc." Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau những các khái niệm về logistics có thể chia làm 2 nhóm: Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại Việt Nam 2005 coi logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa.
Tuy nhiên định nghĩa của Luật Thương mại cũng có tính mở thể hiện qua cụm từ “hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa”. Và trong một số lĩnh vực chuyên ngành thì khái niệm về logistics cũng chỉ bó hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó. Theo nhóm định nghĩa này thì bản chất của logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics có vai trò gần tương tự như người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO). 2 Ma Shuo, Logistics and Supply Chain Management, 1999 10 Theo nhóm định nghĩa thứ 2 về logistics có phạm vi rộng thì logistics có tác động từ giao đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa được giao tới người tiêu dùng cuối cùng.
Theo cách tiếp cận này, logistics gắn liền với hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên, vật liệu từ khâu mua sắm làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất hàng hóa, đưa vào các kênh lưu thông, phân phối và đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nhóm định nghĩa này cũng phân định rõ ràng giữa nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan… với một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp. Như vậy có thể rút ra một định nghĩa ngắn gọn về logistics đó là: “Logistics là một quá trình nhằm quản lý hàng hóa kể từ khâu tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa được đưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng”.2 Vai trò của logistics 1.1 Vai trò của logistics đối với nền kinh tế Ở mỗi quốc gia, mỗi một khu vực địa lý có những đặc điểm về địa hình khác nhau, nguồn tài nguyên, khoáng sản khác nhau và có phương thức lao động, tập quán khác nhau, do đó cần phải có sự phân bố, sắp xếp các ngành sản xuất, các khu công nghiệp, các trung tâm kinh tế sao cho phù hợp với những điều kiện riêng và tổng thể nhằm phát huy được các nguồn lực một cách hiệu quả nhất. Hệ thống logistics đã góp phần vào việc phân bố các ngành sản xuất một cách hợp lý để đảm bảo sự cân đối và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Phát triển dịch vụ logistics một cách hiệu quả sẽ góp phần tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và quốc gia. Trong xu thế toàn cầu mạnh mẽ như hiện nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt hơn. Điều này đã làm cho dịch vụ logistics trở thành một trong các lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Những nước kết nối tốt với mạng lưới dịch vụ logistics toàn cầu thì có thể tiếp cận được nhiều thị trường và người tiêu dùng từ các nước trên thế giới.Chẳng hạn như: Chi Lê – một nước mặc dù ở cách xa hầu hết các thị trường lớn, nhưng lại có vai trò rất lớn trong thị trường lương thực thế giới, cung cấp cá tươi và hoa quả khó bảo quản cho người tiêu dùng ở Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ.
Đối với những nước không có khả năng kết nối này, chi phí logistics sẽ rất cao và ngày càng gia 11 tăng, khả năng mất cơ hội cũng rất lớn, nhất là những nước nghèo nằm sâu trong đất liền, mà phần lớn là ở Châu Phi. Phát triển dịch vụ logistics sẽ đem lại nguồn lợi khổng lồ cho nền kinh tế. Logistics là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Đối với những nước phát triển như Mỹ và Nhật, logistics đóng góp khoảng 10% GDP.
Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể cao hơn 30%. Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng. Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng giảm được chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ.2 Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, lưu thông phân phối và gia tăng sức cạnh tranh cho Doanh nghiệp Việc giảm chi phí logistics luôn được các nhà quản trị đặt lên hàng đầu trong chương trình cắt giảm tổng chi phí cho doanh nghiệp. Đặc biệt là trong thời gian gần đây khi mà tình hình kinh doanh đã thay đổi với chi phí logistics ngày càng tăng cao do sự bất ổn trong giá xăng dầu và sự tăng lên trong chi phí an ninh.
Vì vậy với việc phát triển hệ thống logistics sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn, góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông.
Mác đã từng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải”. Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB, hay 8-9% giá 12 CIF. Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông.
Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ.