Chương 1: Tổng quan về hoạt động cung ứng dịch vụ logistics cho hàng hóa nhập khẩu bằng đƣờng biển. Ở chƣơng này tác giả trình bày về tính cấp thiết của đề tài, tổng quan về tình hình nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian, cũng nhƣ phƣơng pháp sử dụng để nghiên cứu Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quy trình cung ứng dịch vụ logistics bằng đƣờng biển tại doanh nghiệp. Ở chƣơng này tác giả tổng hợp các vấn đề cơ sở lý luận về quy trình cung ứng dịch vụ logistics cho hàng hóa nhập khẩu bằng đƣờng biển. Đồng thời làm rõ các khái niệm liên quan, các thành phần tham gia vào quy trình cung ứng và các yếu tố ảnh hƣởng đến quy trình cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp.
6 Chương 3: Phân tích thực trạng quy trình cung ứng dịch vụ logistics cho hàng hóa nhập khẩu bằng đƣờng biển của công ty TNHH Đầu tƣ và Phát triển Lập Phƣơng tại thị trƣờng châu Á. Ở chƣơng này tác giả phân tích thực trạng về quy trình cung ứng dịch vụ logistics cho hàng hóa nhập khẩu bằng đƣờng biển tại thị trƣờng châu Á của công ty TNHH Đầu tƣ và Phát triển Lập Phƣơng Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình cung ứng dịch vụ logistics cho hàng hóa nhập khẩu bằng đƣờng biển của công ty TNHH Đầu tƣ và Phát triển Lập Phƣơng tại thị trƣờng châu Á. 7 CHƢƠNG II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS CHO HÀNG HÓA NHẬP KHẨU BẰNG ĐƢỜNG BIỂN TẠI DOANH NGHIỆP 2.1 Khái quát về dịch vụ logistics đƣờng biển 2.1 Khái niệm logistics và dịch vụ logistics Logistics là một thuật ngữ mới chỉ đƣợc sử dụng trong vài thế kỷgần đây, tuy nhiên lĩnh vực này lại có lịch sử xuất hiện và phát triển khá lâu đời kể từ khi con ngƣời biết tích trữ, phân chia, trao đổi và vận chuyển những sản phẩm mà mình làm ra. Trải qua dòng chảy lịch sử, logistics phát triển nhanh chóng trong nhiều ngành nghề và lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu.
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm đƣợc đƣa ra khi nói về khái niệm logistics, tuy nhiên trong điều kiện Việt Nam hiện nay thì logistics đƣợc hiểu là “Quá trình tối ưu hóa về vị trí, vận chuyển và dự trữcác nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Tại Việt Nam, trong điều 233 Luật Thƣơng mại Việt Nam năm 2005 – lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics đƣợc pháp điển hóa, quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kí mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Nhƣ vậy có thể hiểu dịch vụ logistics là một loại sản phẩm, dịch vụ đƣợc cung cấp bởi các doanh nghiệp logistics bán cho khách hàng để thu về thù lao. Cũng theo Luật Thƣơng mại 2005, thƣơng nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp logistics hay các nhà cung cấp dịch vụ logistics là các tổ chức kinh doanh dịch vụ logistics, có khả năng cung cấp các dịch vụ logistics chuyên nghiệp cho khách hàng, họ trực tiếp quản lý và kiểm soát hoạt động logistics do các khách hàng thuê họ thực hiện. Về mặt ví trí, các doanh nghiệp logistics đứng ở vị trí kết nối các giao dịch về hàng hóa giữa các nhà cung cấp và khách hàng trong các chuỗi cung ứng.1 Vị trí của doanh nghiệp logistics trong các giao dịch của chuỗi cung ứng (Nguồn: An Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 2018) Với vị trí này các doanh nghiệp logistics cung cấp những lợi thế rất lớn cho chuỗi cung ứng cũng nhƣ toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là những nền kinh tế có độ mở lớn. Các doanh nghiệp logistics tạo ra thị trƣờng cung ứng dịch vụ logistics để đáp ứng yêu cầu cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp này.2 Đặc điểm của dịch vụ logistics Là một loại dịch vụ đặc thù, tuy nhiên dịch vụ logistics vẫn mang đầy đủ những đặc điểm của loại hình dịch vụ nói chung, cụ thể gồm những đặc điểm sau: Thứ nhất, tính vô hình: Dịch vụ logistics không phải là một sản phẩm vật chất nên khách hàng không thể cầm nắm, không thể hình dung trƣớc đƣợc dịch vụ logistics là một sản phẩm nhƣ thế nào mà phải chờ đợi kết quả của quá trình vận chuyển, lƣu kho. Sau khi sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lƣợng dịch vụ logistics đƣợc cung ứng qua các tiêu chí nhƣ: thời gian giao nhận, độ an toàn của hàng hóa, tính chính xác và nhanh chóng của việc hoàn thiện các chứng từ, mức độ hỗ trợ khách hàng … Thứ hai, tính không tách rời: Quá trình cung ứng và sử dụng dịch vụ logistics diễn ra đồng thời chính là đặc điểm về tính không tách rời.
Bởi vậy cả khách hàng và công ty cung cấp dịch vụ logistics đều rất khó để có thể dự đoán và tính toán kỹ lƣỡng về thời gian cung ứng hay ngăn chặn các phát sinh cho lô hàng. Thứ ba, tính không dự trữ được: Vì quá trình sử dụng và cung ứng diễn ra đồng thời nên dịch vụ logistics không thể dự trữ đƣợc. Điều này tạo nên sự mất cân đối cung - cầu về dịch vụ trong những thời điểm khác nhau. Ví dụ thời điểm nhập hàng cao điểm cuối 9 năm để chuẩn bị cho dịp tết nguyên đán cũng là giai đoạn có nhu cầu cao về dịch vụ logistics, trong khi những tháng đầu năm, sau tết lại có mức nhập hàng thấp hơn, vì thế tình trạng doanh nghiệp dịch vụ logistics lúc khan hiếm khách hàng, lúc lại bị quá tải, không đáp ứng đƣợc nhu cầu vẫn diễn ra.
Thứ tư, tính không đồng đều về chất lượng: Chất lƣợng dịch vụ logistics là một yếu tố rất khó để tiêu chuẩn hóa, bởi bản thân dịch vụ logistics phụ thuộc vào các yếu tố khác nhƣ: yếu tố máy móc, thiết bị, điều kiện môi trƣờng do không gian cung ứng có tính phân tán, ngoài ra chất lƣợng dịch vụ logistics còn phụ thuộc vào trình độ quản trị kinh doanh khả năng kiểm soát quá trình cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp, sự đánh giá của khách hàng và đối thủ cạnh tranh … 2.3 Phân loại dịch vụ logistics Để phục vụ cho mục tiêu thuê ngoài dịch vụ logistics, có thể phân biệt các doanh nghiệp logistics dựa vào các tiêu thức khác nhau. Năng lực cung cấp dịch vụ là yếu tố đƣợc quan tâm hàng đầu khi lựa chọn và chia doanh nghiệp logistics thành các nhóm sau: Logistics bên thứ nhất hay logistics tự cung ứng (1PL - First PartyLogistics): Chỉ những ngƣời sở hữu hàng hóa trong chuỗi cung ứng tựmình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu củabản thân doanh nghiệp. Các công ty 1PL có thể sở hữu phƣơng tiện vận tải, nhà xƣởng, thiết bị xếp dỡ, các nguồn lực khác bao gồm cả con ngƣời để thực hiện các hoạt động logistics. Trƣờng hợp không sở hữu các tài sản cần thiết, công ty có thể thuê ngoài thiết bị hoặc toàn bộ các hoạt động logistics.
Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics): là những doanh nghiệp có khả năng cung cấp những dịch vụ logistics đơn lẻ cho khách hàng nhƣng chƣa tích hợp đƣợc nhiều dịch vụ với nhau (chỉ đảm nhận mộtkhâu hoặc rất ít khâu trong chuỗi logistics). Thực chất, doanh nghiệp 2PL chỉ tập trung vào các dịch vụ truyền thống nhƣ vận tải, kho hàng, thủ tụchải quan, thanh toán,. Do chỉ có khả năng cung ứng các dịch vụ đơn lẻ nên hiệu quả chi phí của loại hình này thƣờng không cao. Nguồn lực về vốn và trình độ quản lý có hạn nên khả năng phát triển mạng lƣới cung ứng dịch vụ hẹp.
Trong thực tế, 2PL thƣờng là ngƣời vận chuyển nhƣ hãng tàu, hãng hàng không, hãng xe tải. Họ thƣờng sở hữu và sử dụng phƣơng tiện vận tải chuyên dụng để phục vụ cho công việc vận chuyển đặc thù. Đảm nhận vai trò vận chuyển của một khâu hay cung cấp các dịch vụ vận chuyển đơn lẻ trong toàn bộ chuỗi logistics của một doanh nghiệp khách hàng. Tất nhiên cũng có nhiều 2PL quy mô lớn và có khả năng bao phủ thị trƣờng nhiều nƣớc nhƣ các hãng tàu: Maersk, Wan Hai, MOL,… 10 Logistics bên thứ ba (3PL – Third Part Logistics) là những doanh nghiệp có thể thay mặt chủ hàng tổ chức thực hiện và quản lý các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng.
Thay mặt cho bên gửi hàng thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu, thay mặt cho ngƣời nhập khẩu thực hiện thủ tục thông quan hàng hóa và đƣa hàng tới điểm đến quy định. Các dịch vụ logistics này luôn kết hợp chặt chẽ với việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,… về hàng hóa của khách hàng và tích hợp vào dây chuyền cung ứng của họ.4 Đặc điểm, vai trò của dịch vụ logistics bằng đường biển Dịch vụ logistics bằng đƣờng biển có những đặc điểm nổi bật sau: Thứ nhất, khi so sánh với các phƣơng thức vận chuyển khác thì chi phí dịch vụ logistics đƣờng biển thƣờng thấp hơn. Với ƣu thế là việc có sẵn các tuyến đƣờng đƣợc hình thành một cách tự nhiên, không tốn chi phí xây dựng, bảo trì bảo dƣỡng (trừ một số kênh đào). Với mức chi phí cố định và chi phí biến đổi thấp nên đƣờng biển là phƣơng tiện có chi phí bình quân đơn vị thấp nhất trong các phƣơng thức vận tải.
Bên cạnh đó nhờ vào việc tận dụng lợi thế kinh tế nhờ quy mô khi đóng ghép các lô hàng lẻ vào container với khối lƣợng vận chuyển lớn hơn giúp giảm chi phí. Thứ hai, năng lực vận chuyển rất lớn. Theo số liệu thống kê, hiện nay vận tải biển chịu trách nhiệm vận chuyển hơn 80% sản lƣợng hàng hóa thƣơng mại toàn thế giới và khoảng 50% giá trị hàng hóa tính bằng tiền đƣợc vận chuyển bằng đƣờng biển. Với tải trọng trung bình của tàu biển là 15.000 DWT nên có thể vận chuyển đƣợc rất nhiều loại hình hàng hóa, kể cả hàng hóa quá khổ, quá tải (Nguyễn Thông Thái, An Thị Thanh Nhàn – 2018).