Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty TNHH Giao nhận MV. Chương 2: Thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty TNHH Giao nhận MV. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty TNHH Giao nhận MV. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS 2.
Khái quát về dịch vụ logistics 2. Khái niệm, đặc điểm dịch vụ logistics Ở Việt Nam, định nghĩa về dịch vụ logistics được quy định ở điều 233 Luật Thương mại 2005: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Luật thương mại 2005 coi dịch vụ logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa, những người kinh doanh cung cấp một trong các dịch vụ như nhận hàng, vận chuyển, làm thủ tục hải quan thì đều được coi là nhà cung cấp dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics theo cách định nghĩa này có bản chất là một hoạt động tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ.
Theo đó, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO) (Đoàn Thị Hồng Vân, 2010). Tuy nhiên, dịch vụ logistics ở đây phải được hiểu là một dịch vụ liên hoàn của nhiều dịch vụ, các dịch vụ này thuộc các giai đoạn từ tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo đó, dịch vụ logistics gắn liền với cả giai đoạn nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối (Đặng Đình Đào, 2013). Qua việc phân biệt dịch vụ logistics với các dịch vụ giao nhận vận tải, ta cũng phân định được rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất với một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng.
* Đặc điểm dịch vụ logistics Thứ nhất, chủ thể của quan hệ dịch vụ logistics gồm hai bên: người làm dịch vụ logistics (thương nhân) và khách hàng. Thương nhân cung ứng dịch vụ logistics 8 phải có đăng ký kinh doanh do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận, trong đó, ghi rõ ngành nghề kinh doanh là dịch vụ logistics. Bên cạnh đó, cũng cần đáp ứng đủ điều kiện về phương tiện thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu. Đối với khách hàng, là những người có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics, có thể là người sở hữu hàng hóa hoặc là người làm dịch vụ logistics khác.
Thứ hai, dịch vụ logistics là bước phát triển cao hơn và hoàn chỉnh hơn các dịch vụ liên quan đến hàng hóa như đóng gói bao bì, vận tải, giao nhận hàng hóa, lưu kho và lưu bãi. Thương nhân có thể cung cấp các dịch vụ riêng lẻ (thuê tàu, làm thủ tục hải quan, đóng gói hàng hóa.) hoặc cũng có thể cung cấp những dịch vụ logistics trọn gói. Thương nhân cung cấp dịch vụ logistics thực hiện dịch vụ theo chuỗi, bao gồm các dịch vụ từ khâu cung ứng, phân phối và tiêu dùng. Thứ ba, dịch vụ logistics là một loại hoạt động dịch vụ.
Các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics nhằm mục đích đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng nhanh chóng, hạn chế tối đa rủi ro. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics sẽ được khách hàng trả tiền công và các khoản chi phí khác từ việc cung ứng dịch vụ. Thứ tư, dịch vụ logistics được thực hiện trên cơ sở hợp đồng. Hợp đồng dịch vụ logistics là sự thoả thuận giữa khách hàng và thương nhân cung ứng dịch vụ logistics.
Tùy thuộc vào mức độ sử dụng dịch vụ của khách hàng, nội dung hợp đồng có thể đơn giản hoặc phức tạp. Phân loại dịch vụ logistics Dịch vụ logistics được phân theo nhiều tiêu thức khác nhau: theo lĩnh vực hoạt động; theo phương thức khai thác hoạt động logistics; theo tính chuyên môn hóa của các công ty cung cấp dịch vụ logistics; hoặc theo khả năng tài chính của các công ty cung cấp dịch vụ logistics. * Theo tiêu thức lĩnh vực hoạt động, gồm: Logistics trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh (Business logistics) là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả và hiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ các điểm khởi đầu cung cấp các yếu tố đầu vào của dịch vụ đến điểm cuối cùng sản xuất và cung cấp dịch vụ cho khách hàng. 9 Logistics sự kiện (Event logistics) là tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp.
Logistics dịch vụ (Service logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chương trình và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con người, vật liệu nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh. * Theo tiêu thức phương thức khai thác hoạt động logistics, gồm: Logistics bên thứ nhất (1PL): Các công ty tự thực hiện các hoạt động logistics của mình. Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động logistics. Logistics bên thứ hai (2PL): Là việc quản lý các hoạt động logistics truyền thống như vận tải hay kho vận.
Công ty không sở hữu hoặc có đủ phương tiện và cơ sở hạ tầng thì có thể thuê ngoài các dịch vụ cung cấp logistics nhằm cung cấp phương tiện thiết bị hay dịch vụ cơ bản. Lý do của phương thức này là để cắt giảm chi phí hoặc vốn đầu tư. Logistics bên thứ ba (3PL hoặc TPL) hay còn được gọi là logistics theo hợp đồng. Phương thức này có nghĩa là sử dụng các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý logistics hoặc chỉ một số hoạt động có chọn lọc.
Logistics bên thứ ba còn có thể được hiểu là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng. Ví dụ như: thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng tới địa điểm đến quy định… Do đó 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin…và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. Logistics bên thứ tư (4PL hay FPL) hay còn được gọi là logistics chuỗi phân phối. FPL là một khái niệm phát triển trên nền tảng của TPL nhằm tạo ra sự đáp ứng dịch vụ, hướng về khách hàng và linh hoạt hơn.
FPL bao gồm lĩnh vực rộng hơn gồm cả các hoạt động của TPL, các dịch vụ công nghệ thông tin và quản lý các tiến trình kinh doanh. FPL được xem là một điểm liên lạc duy nhất, nơi thực hiện việc 10 quản lý, tổng hợp các nguồn lực và giám sát các chức năng TPL trong suốt chuỗi phân phối nhằm vươn tới thị trường toàn cầu, lợi thế chiến lược và các mối quan hệ lâu bền. Logistics bên thứ năm (5PL): Là hoạt động logistics ứng dụng thương mại điện tử, công nghệ thông tin (CNTT) nhằm đảm bảo hoạt động có hiệu quả hơn, nhanh hơn, đơn giản hơn. * Theo tính chuyên môn hóa của các công ty cung cấp dịch vụ logistics Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải: Bao gồm (1) Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đơn phương thức: Là những công ty chỉ cung cấp một loại phương tiện vận tải; (2) Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức: Là những công ty sử dụng từ hai phương tiện vận tải khác nhau trở lên trong cả quá trình vận chuyển; (3) Các công ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng; (4) Các công ty môi giới vận tải.
Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối: Bao gồm các công ty cung cấp dịch vụ kho bãi; các công ty cung cấp dịch vụ phân phối. Các công ty cung cấp dịch vụ hàng hóa: Bao gồm các công ty khai thuê hải quan; các công ty giao nhận, gom hàng lẻ; các công ty dịch vụ đóng gói, vận chuyển. Các công ty cung cấp dịch vụ logistics chuyên ngành: Bao gồm các công ty công nghệ thông tin; các công ty viễn thông; các công ty cung cấp giải pháp tài chính, bảo hiểm; các công ty cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo. * Theo khả năng tài chính của các công ty cung cấp dịch vụ logistics Các công ty sở hữu tài sản thực sự có riêng đội vận tải, nhà kho…, và sử dụng chúng để quản lý tất cả hay một phần các hoạt động logistics cho khách hàng.
Các công ty logistics không sở hữu tài sản thì hoạt động như một người hợp nhất các dịch vụ logistics và phần lớn các dịch vụ là đi thuê ngoài. Họ có thể phải đi thuê phương tiện vận tải, nhà kho, bến bãi. Ngày nay có rất nhiều loại hình dịch vụ logistics nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng khác nhau của các ngành hàng khác nhau. Khác với trước đây, không chỉ các dịch vụ logistics cơ bản như vận tải và kho vận mà các loại dịch vụ phức tạp và đa dạng khác cũng đã xuất hiện.
Việc thuê ngoài các dịch vụ logistics gọi theo thuật ngữ chuyên ngành là logistics outsourcing. Vai trò của dịch vụ logistics Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, dịch vụ logistics ngày càng đóng vai trò vô cùng quan trọng với nền kinh tế và doanh nghiệp.