CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LOGISTICS VÀ CHỈ SỐ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS. Một số vấn đề cơ bản về Logistics 1. Khái niệm Thuật ngữ Logistics dường như mới được sử dụng trong vài thế kỷ gần đây, nhưng thực sự hoạt động Logistics đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử của nhân loại. Theo dòng chảy của lịch sử, ta có thể thấy hoạt động Logistics diễn ra vào khoảng 2700 năm trước công nguyên trong quá trình xây dựng kim tự tháp Ai Cập.
Những người Ai Cập chắc chắn phải sử dụng những giải pháp Logistics để có thể vận chuyển những khối đá nặng hàng tấn và xây dựng tháp. Trải qua quá trình suốt hơn 5000 năm, ngày nay logistics xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực kinh doanh. Tùy theo từng góc độ và mục đích khác nhau mà khái niệm logistics cũng có sự khác biệt. Trước đây, khi nói đến logistics, chúng ta chỉ đơn giản nghĩ đến hoạt động vận tải và lưu kho.
Tuy nhiên, dịch vụ của logistics lại bao gồm rất nhiều khâu, nhiều công đoạn khác nhau: gom hàng, vận tải, lưu kho, đóng gói, quản lý thông tin. Cho đến nay chưa có một khái niệm thống nhất về logistics, các nghiên cứu khác nhau đã đưa ra các quan điểm khác nhau về thuật ngữ này. “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng, qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt hoạt động kinh tế”.Đoàn Thị Hồng Vân & TS. Kim Ngọc Đạt, 2010) “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển, lưu trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng.
Mục tiêu của logistics là đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách kịp thời và tối ưu nhất về chi phí.( Trần Nguyễn Hợp Châu và cộng sự, 2021) Theo Alan R cùng các cộng sự (2014), Logistics được hiểu là việc trao đổi hàng hóa một cách hiệu quả từ nhà cung cấp qua cơ sở sản xuất đến điểm tiêu thụ đồng thời cung cấp dịch vụ phù hợp đến khách hàng. 6 Như vậy, logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà nó là sự kết hợp của nhiều khâu, nhiều hoạt động khác nhau từ phương thức vận chuyển, dự trữ nguồn nguyên vật liệu đến khâu sản xuất, phân phối tới tay người tiêu dùng. Theo Hội Đồng Quản Lý Hậu Cần (CLM – The Council of Logistics Management), Logistics là một bộ phận của chuỗi dây chuyền cung ứng, tiến hành thành lập ra kế hoạch, thực hiện và kiểm soát công việc chu chuyển là lưu kho hàng hóa, cùng các dịch vụ và thông tin có liên quan từ địa điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng một cách hiệu quả nhằm đáp ứng những yêu cầu của khách hàng. Theo tài liệu của Liên Hợp Quốc (UNESCAP), logistics được hiểu là “Việc quản lý dòng chu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng”.
Logistics là một quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển và lưu kho hiệu quả hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu khách hàng (D. Lambert, 1998) Luật Thương mại Việt nam năm 2005 lại đưa ra khái niệm về logistics: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, là thủ tục hải quan, các giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận của khách hàng để hưởng thù lao.” Từ các kết quả nghiên cứu trên, có thể rút ra, logistics là tổ chức thực hiện và quản lý các luồng hàng hóa, dòng tiền, trao đổi thông tin giữa nhà cung cấp và khách hàng gồm các hoạt động như vận chuyển, lưu kho, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, làm thủ tục hải quan và các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng 7 Sơ đồ 1. Chuỗi giá trị logistics Nguồn: NSDC (2010) Từ sơ đồ 1.1 có thể thấy rằng, chuỗi giá trị logistics xuất phát từ nhà sản xuất. Hàng hóa sau khi được đóng gói và vận chuyển bằng phương tiện vận tải phù hợp (đường hàng không, đường sắt, đường biển…) tùy thuộc vào các điều kiện và tính chất của hàng hóa sẽ được đưa đến kho để lưu kho và bảo quản.
Hàng hóa có thể được lưu kho tại các điểm gom hàng lẻ (CFS – Container Freight Station), tại các cảng cạn (ICD – Inland Container Deport) hay kho ngoại quan (Bounded Warehouse)…. Hàng hóa sau khi lưu kho sẽ được vận chuyển đi để đóng gói lại theo quy chuẩn trước khi được đưa đến tay khách hàng. Và chuỗi giá trị logistics được hoàn tất khi khách hàng nhận được hàng hóa đó. Vai trò Vai trò của Logistics đối với nền kinh tế nói chung - Logistics góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội: Logistics là một hoạt động liên tục, giữa các khâu có mối quan hệ mật thiết với nhau và tác động qua lại lẫn nhau.
Xem xét ở góc độ tổng quan, có thể thấy logistics xuất hiện liên tục xuyên suốt trong quá trình sản xuất từ khâu thu mua nguyên vật liệu, sản xuất, đóng gói, dự trữ bán thành phẩm hay thành phẩm, lưu thông và phân phối (Sơ đồ 1. Trong bài thảo luận về “việc so sánh tác động của các yếu tố kinh tế và xã hội đến hoạt động logistics” của Guner và E. Khi hoạt động logistics 8 của quốc gia đó hiệu quả thì kéo theo sự đi lên của nền kinh tế - xã hội. Theo nghiên cứu của Tongzon, J (2011) về hoạt động logistics của các nước ASEAN đã cho thấy việc đóng góp của hoạt động logistics trong GDP của các quốc gia.
Chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm 12.79% GDP của Singapore; chiếm 10,14% GDO của Thailand; 6.8% GDP của Philippine; 6.31% GDP của Indonesia năm 2008 (Tongzon. Vì thế các hoạt động giúp nâng cao hiệu quả của logistics sẽ đóng góp vào nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. - Logistics hỗ trợ luồng trung chuyển của các giao dịch kinh tế trên thế giới: Logistics tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch kinh tế và có vai trò quan trọng trong việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia với nhau (Lambertet 1998). Vì thế, sự phát triển của chuỗi logistics sẽ dẫn đến sự phát triển nền kinh tế của quốc gia đó.
Quản trị chuỗi logistics Nguồn: Lambert, Stock & Ellram (1998) Sơ đồ 1.2 đưa ra các thành phần trong quản trị chuỗi logistics. Đầu vào của hoạt động logistics phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau (Inputs of logistics) như: 9 nguồn lực tự nhiên (đất đai, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị), nguồn lực tài chính, nguồn thông tin và các yếu tố về con người. Dựa vào các nguồn lực sẵn có trong yếu tố đầu vào của logistics, nhà cung cấp sẽ thực hiện việc quản trị hoạt động logistics từ cung cấp nguyên vật liệu, lưu kho trong quá trình sản xuất, đến quá trình sản xuất ra thành phẩm để đưa đến tay của khách hàng. Bên cạnh đó, các nghiệp vụ quản lý (lên kế hoạch, thực hiện, kiểm tra) và hoạt đông logistics (dịch vụ khách hàng, dự đoán nhu cầu, thông tin trong phân phối, thu gom, đóng gói…) được kèm theo với việc quản trị logistics.
Và để tạo ra được đầu ra của logistics (Outputs of Logistics): lợi thế cạnh tranh, tối ưu hóa về thời gian và địa điểm, hiệu quả trong việc vẩn chuyển hành hóa tới khách hàng, tài sản sở hữu. - Logistics nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia Mỗi một hoạt động trong chuỗi đều có vị trí và chiếm một khoản chi phí nhất định. Theo Báo cáo Logistics Việt Nam 2018, tỉ lệ % chi phí logistics trong GDP đối với các nước Châu Âu khoảng 8 – 10%, Trung Quốc là 14%, Thái Lan gần 16%, Việt Nam giao động trong khoảng 16 – 18%. Từ đó, có thể thấy rằng đối với các nước càng phát triển thì chi phí cho hoạt động logistics có xu hướng thấp.
Việc giảm thiểu chi phí logistics có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi nó là đòn bẩy cho sự phát triển của hoạt động trao đổi giữa các quốc gia trên thế giới, và nâng cao tính cạnh tranh của quốc gia đó. Đặc biệt là trong bối cảnh tự do hóa thương mại khi mà các hàng rào thuế quan hay phi thuế quan đang dần được gỡ bỏ thì tính canh tranh diễn ra ngày càng khốc liệt và logistics chính là chiếc chìa khóa để giúp quốc gia tạo được lợi thế riêng cho mình. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng (đặc biệt trong lĩnh vực giao thông vận tải) và hệ thống thông tin liên lạc có mối quan hệ mật thiết với sự chênh lệch về cho phí logistics giứa các quốc gia (Limao và Venables, 2001). Vì thế, việc phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng hệ thông cảng biển… tạo điều kiện cho quốc gia đó gia nhập thị trường kinh tế thế giới đồng thời sẽ thu hút được sự đầu tư từ các công ty lớn trên thế giới.
- Logistics có vai trò nâng cao khả năng hội nhập của nền kinh tế: Theo Behar và Manners (2008), hoạt động logistics tỷ lệ thuận với hoạt động thương mại của quốc gia đó, quốc gia hay khu vực nơi mà có hoạt động xuất khẩu và logistics tốt thì nền kinh tế phát triển. Một nhà kinh tế học người Anh cho rằng: “Khối 10 lượng hàng hóa lưu chuyển giữa hai quốc gia tỷ lệ thuận với tỷ số tiềm năng kinh tế của quốc gia đó và tỉ lệ nghịch với khoảng cách của hai quốc gia đó”. Như vậy, nếu khối lượng hàng hóa được trao đổi giữa các quốc gia ngày càng lớn thì đồng nghĩa với việc khoảng cách kinh tế giữa hai quốc gia này ngày càng thu hẹp. Điều này minh chứng cho việc, khoảng cách địa lý không phải là vấn đề quá lớn tác động đến khối lượng và kim ngạch xuất nhập khẩu của quốc gia đó.
Vai trò của Logistics đối với các doanh nghiệp - Logistics nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể kiểm soát và điều chỉnh chi phí hoạt động dựa vào việc lựa chọn nguồn cung ứng, công nghệ sản xuất, lựa chọn các kênh phân phối, tìm kiếm thị trường tiêu thụ,.